Theo đó, yêu cầu cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh lần này không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn trước mắt cho doanh nghiệp (DN), mà còn là một bước chuyển mạnh về tư duy xây dựng thể chế. Trong bối cảnh đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức 2 con số trong những năm tới, chúng ta không thể đạt được bằng mô hình cũ thâm dụng lao động, đất đai, tài nguyên, mà động lực phải đến từ năng suất mới, trong đó chìa khóa là thể chế. Do vậy, sẽ có 3 nhóm lĩnh vực cần được ưu tiên đặc biệt.
Thứ nhất, là lĩnh vực đầu tư, khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS). Với nhóm này, cần tiếp cận theo hướng “chọn bỏ” và DN được làm những gì pháp luật không cấm thay vì “chọn cho”. Chúng ta cần chuyển mạnh từ tư duy "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", từ quản lý bằng giấy phép sang quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu và công nghệ số. Những gì DN có thể tự kê khai, tự chịu trách nhiệm thì Nhà nước không nên yêu cầu xin phép nhiều lần.
Thứ hai, là lĩnh vực đầu tư xây dựng, đất đai, môi trường và hạ tầng chiến lược, năng lượng tái tạo. Thực tế cho thấy, có những dự án mất nhiều năm chỉ để hoàn thành thủ tục, dẫn đến chi phí tăng lên rất lớn, làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế. Các dự án điện gió, điện mặt trời, truyền tải đang vướng thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất rừng, đất lúa, quy hoạch, phê duyệt giá điện. Nếu phân cấp triệt để và loại bỏ bước trung gian sẽ khơi thông hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn xã hội. Vì vậy, cần rà soát toàn diện các thủ tục còn chồng chéo, loại bỏ những bước trung gian không cần thiết, đẩy mạnh liên thông giữa các cơ quan và số hóa toàn bộ quy trình giải quyết hồ sơ.
Thứ ba, là lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa, xuất nhập khẩu và logistics. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng, thời gian thông quan, kiểm tra chuyên ngành hay cấp chứng nhận chất lượng đều ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của doanh nghiệp. Việc cắt giảm các thủ tục này sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Ở đây, cắt giảm thủ tục hành chính không có nghĩa là buông lỏng quản lý, điều quan trọng là phải xác định đúng thủ tục nào thực sự cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sức khỏe cộng đồng và môi trường, còn thủ tục hình thức thì mạnh dạn loại bỏ.
Đặc biệt, việc sửa luật cần bám sát và thực hiện nghiêm nguyên tắc “một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm”. Nếu một thủ tục vẫn phải qua nhiều bộ, nhiều ngành thì dù số hóa đến đâu cũng chưa tạo được đột phá, tất cả hướng tới chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm tối đa chi phí tuân thủ nhưng tuyệt đối không để xảy ra khoảng trống pháp lý. Mục tiêu cuối cùng của cải cách thể chế phải là giảm chi phí tuân thủ cho người dân và DN, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và ổn định. Khi nguồn lực xã hội được giải phóng thì tăng trưởng kinh tế sẽ có thêm dư địa, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong kỳ họp không thường lệ của Quốc hội khóa XVI tháng 8/2026, cần tập trung sửa đổi pháp luật với quy mô lớn trong lĩnh vực kHCN. Mục tiêu xuyên suốt là thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng, đặc biệt là tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia, đồng thời tạo khung khổ pháp lý đủ linh hoạt để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Một trong những nội dung quan trọng là đổi mới phương thức quản lý nhà nước từ kiểm soát quy trình sang quản lý kết quả. Nhiều quy định hiện nay còn nặng về tiền kiểm, yêu cầu DN phải xin phép qua nhiều cấp trước khi triển khai hoạt động. Các dự thảo luật đang được nghiên cứu theo hướng cắt giảm đáng kể các điều kiện kinh doanh không cần thiết, tăng cường phân cấp, phân quyền và áp dụng quản trị số. Trong đó có một số Luật như: Luật Tần số vô tuyến điện; Luật Viễn thông; Luật Giao dịch điện tử; Luật Chuyển giao công nghệ...
Để đáp ứng yêu cầu đó, các cơ quan của Quốc hội, trong đó có Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, đã đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc. Trước hết là tham gia từ rất sớm ngay trong quá trình cơ quan soạn thảo xây dựng chính sách. Thay vì chờ hồ sơ hoàn thiện mới tiến hành thẩm tra, Ủy ban trao đổi thường xuyên với cơ quan chủ trì soạn thảo ngay từ khâu xây dựng đề cương, xác định chính sách lớn, từ đó kịp thời góp ý để hạn chế việc phải chỉnh sửa nhiều ở giai đoạn cuối.
Thứ hai là tăng cường phối hợp liên ngành. Đối với những nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực, Ủy ban tổ chức các cuộc làm việc với nhiều bộ, ngành, địa phương, hiệp hội DN, chuyên gia và nhà khoa học, nhằm tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau.
Thứ ba là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quá trình thẩm tra. Hồ sơ được số hóa, chia sẻ trên môi trường điện tử; các cuộc họp trực tuyến được tổ chức linh hoạt; việc lấy ý kiến chuyên gia được thực hiện đồng thời ở nhiều địa điểm. Nhờ đó, thời gian xử lý được rút ngắn nhưng chất lượng phản biện vẫn được bảo đảm.
Thứ tư là đổi mới phương pháp thẩm tra theo hướng lấy người dân và DN làm trung tâm. Không chỉ xem xét quy định đó đúng về mặt pháp lý hay không, mà vấn đề là quy định này có thực sự thuận lợi cho người dân, DN không; có làm phát sinh thêm chi phí tuân thủ không; có thể thực hiện được trên thực tế hay không. Nếu câu trả lời chưa thuyết phục thì tiếp tục kiến nghị chỉnh sửa.
Một điểm đổi mới nữa là tăng cường rà soát độc lập đối với từng chính sách. Mỗi quy định đều được đối chiếu với chủ trương của Đảng, với Hiến pháp, với các luật hiện hành và với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia. Đồng thời, phải đặc biệt chú trọng đánh giá tác động về kinh tế, xã hội, môi trường và khả năng tổ chức thực hiện sau khi luật được ban hành. Chất lượng của luật không chỉ được quyết định bởi chất lượng của văn bản, mà còn bởi khả năng đi vào cuộc sống. Vì vậy, ngay trong quá trình thẩm tra, các cơ quan của Quốc hội đã yêu cầu cơ quan soạn thảo chuẩn bị đồng thời các văn bản hướng dẫn thi hành, xây dựng lộ trình triển khai và chuẩn bị các điều kiện về nguồn lực, cơ sở dữ liệu, nhân lực để khi luật có hiệu lực là có thể thực hiện ngay, tránh tình trạng “luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư”.
Có thể nói, áp lực thời gian lần này cũng là cơ hội để đổi mới phương thức xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, khoa học và hiện đại hơn. Điều quan trọng nhất là mọi sửa đổi đều phải hướng tới mục tiêu chung: Xây dựng một hệ thống pháp luật ổn định, minh bạch, dễ thực hiện, tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phục vụ tốt hơn người dân, DN theo phương châm của Nghị quyết 66-NQ/TW: “Thể chế phải kiến tạo, đi trước, mở đường cho phát triển”, lấy lợi ích của người dân và sự cất cánh của DN làm thước đo năng lực cuối cùng của cơ quan lập pháp. Đó cũng là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng./.
PV