Thứ Tư, 19/08/2026 08:46:56 GMT+7
Lượt xem: 204

Tin đăng lúc 19-08-2026

Chống hàng giả trong thời đại số: Chia sẻ thông tin bất thường để ngăn ngừa rủi ro

Bộ Công Thương đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (gọi tắt dự thảo). Trong đó, trách nhiệm đối với nền tảng số, người bán và doanh nghiệp trong kiểm soát giao dịch, tiếp nhận phản ánh, thu hồi hàng hóa có khuyết tật đã được đề cập và quy định cụ thể. Ông Nguyễn Văn Thi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cho hay, để chống hàng giả hiệu quả trong thời đại số, chính sách cần đi xa hơn việc xử lý sau vi phạm, hướng tới nhận diện rủi ro, truy tận nguồn, kết nối dữ liệu và cảnh báo sớm từ nền tảng.
Chống hàng giả trong thời đại số: Chia sẻ thông tin bất thường để ngăn ngừa rủi ro
Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI

PV: Thương mại điện tử phát triển nhanh, mở rộng không gian kinh doanh, nhưng cũng tạo thêm cơ hội để hàng giả, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại tiếp cận người tiêu dùng. Trong bối cảnh đó, dự thảo đặt vấn đề tăng trách nhiệm của các chủ thể ngay trong quá trình giao dịch. Theo ông, cách tiếp cận này có ý nghĩa như thế nào, nhất là đối với việc bảo vệ người tiêu dùng trên môi trường số?

 

Ông Nguyễn Văn Thi: Tôi cho rằng, đây là bước chuyển cần thiết, bởi với thương mại điện tử, nếu chỉ chờ vi phạm xảy ra rồi mới xử lý thì đã quá muộn. Điều quan trọng là phải đưa trách nhiệm phòng ngừa vào ngay từ trước và trong quá trình giao dịch, thay vì chỉ tập trung vào khâu xử lý hậu quả.

 

Sự khác biệt giữa giao dịch truyền thống và giao dịch trên môi trường số cho thấy rõ yêu cầu này. Khi mua hàng tại cửa hàng, người tiêu dùng thường biết địa chỉ, người bán và có thể trực tiếp quay lại khi phát sinh vấn đề. Trong khi đó, trên môi trường mạng, một giao dịch có thể hoàn tất chỉ trong vài phút; người bán có thể ở địa phương khác, thậm chí ở nước ngoài. Khi hàng hóa có vấn đề, người mua không chỉ khó xác định người chịu trách nhiệm mà còn gặp khó khăn trong việc lưu giữ, cung cấp bằng chứng về giao dịch.

 

Vì vậy, việc dự thảo làm rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể, đặc biệt là nền tảng số, có ý nghĩa rất quan trọng. Nền tảng không chỉ là nơi kết nối người mua và người bán mà còn là nơi nắm giữ phần lớn dấu vết của giao dịch. Từ thông tin người bán, sản phẩm được đăng tải, nội dung quảng cáo đến lịch sử giao dịch, phản ánh và xử lý vi phạm, những dữ liệu này đều có giá trị trong việc nhận diện rủi ro và truy tìm nguồn gốc hàng hóa.

 

Theo đó, yêu cầu nền tảng xác thực người bán, xử lý tài khoản chưa xác thực, tiếp nhận và giải quyết phản ánh, khiếu nại, đồng thời cung cấp thông tin, dữ liệu cho cơ quan quản lý khi được yêu cầu không nên được nhìn nhận đơn thuần là nghĩa vụ thủ tục. Đây chính là một lớp kiểm soát quan trọng đối với hàng hóa và người bán trên môi trường số.

 

Tuy nhiên, trách nhiệm chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng khả năng hành động. Người tiêu dùng không chỉ cần biết ai chịu trách nhiệm, mà cần được bảo vệ ngay khi xuất hiện dấu hiệu bất thường. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của việc tăng trách nhiệm phải là hình thành một cơ chế có khả năng nhận diện sớm, truy tận nguồn, xác định đúng trách nhiệm và cảnh báo kịp thời, qua đó ngăn hàng giả, hàng kém chất lượng trước khi tiếp tục lan rộng trên thị trường.

 

 

 

Ông Nguyễn Văn Thi 

 

PV: Như vậy, trách nhiệm của nền tảng không chỉ dừng ở xác thực người bán hay tiếp nhận phản ánh, mà còn nằm ở khả năng cung cấp dữ liệu để truy vết khi có vi phạm. Theo ông, những quy định này đã đủ để biến nền tảng số trở thành hàng rào ngăn hàng giả, gian lận thương mại?

 

Ông Nguyễn Văn Thi: Nếu nhìn đúng vai trò, các quy định trong dự thảo có thể tạo thêm một lớp kiểm soát quan trọng đối với hàng giả và gian lận thương mại trên môi trường số. Tuy nhiên, để trở thành một hàng rào thực sự hiệu quả thì chỉ quy định trách nhiệm của nền tảng là chưa đủ; quan trọng hơn là phải biến dữ liệu mà nền tảng đang nắm giữ thành công cụ phục vụ truy vết, cảnh báo và ngăn chặn vi phạm.

 

Dự thảo đã đặt ra yêu cầu cung cấp dữ liệu liên quan đến người bán, hoạt động quảng cáo, xác thực danh tính, kiểm duyệt nội dung, hoạt động của người bán nước ngoài và các biện pháp xử lý vi phạm. Khi cơ quan quản lý yêu cầu, nền tảng phải cung cấp dữ liệu trực tuyến trong thời hạn 5 ngày làm việc và chịu trách nhiệm về tính chính xác, toàn vẹn của dữ liệu.

 

Đây là điểm đáng chú ý. Bởi trong môi trường số, dữ liệu chính là dấu vết của hàng hóa và giao dịch. Một tài khoản bán hàng, một nội dung quảng cáo hay một đơn hàng không chỉ là thông tin thương mại, mà còn có thể trở thành căn cứ để xác định người bán, truy tìm nguồn hàng, nhận diện phương thức vi phạm và xác định trách nhiệm khi có vụ việc xảy ra.

 

Tuy nhiên, dữ liệu chỉ thực sự có giá trị khi được kết nối và sử dụng kịp thời. Đây mới là điểm cần quan tâm. Hiện nay, thông tin liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng, quản lý thị trường, chất lượng hàng hóa, y tế, nông nghiệp, hải quan, công an, thông tin và truyền thông hay chính quyền địa phương có thể nằm ở nhiều hệ thống khác nhau. Nếu các nguồn dữ liệu này không được liên thông, một người bán có thể bị phát hiện và xử lý ở địa bàn này nhưng vẫn tiếp tục hoạt động trên nền tảng khác hoặc tại địa bàn khác.

 

Vì vậy, hàng rào chống hàng giả trên môi trường số không thể chỉ dựng ở từng nền tảng mà phải được nối thành một hệ thống. Khi một tài khoản, sản phẩm hoặc phương thức bán hàng xuất hiện dấu hiệu bất thường, thông tin cần được chia sẻ đến những cơ quan và nền tảng có liên quan để cùng nhận diện, xác minh và cảnh báo.

 

Đặc biệt, cần chuyển mạnh từ tư duy có vi phạm mới truy dữ liệu sang dữ liệu phải giúp nhận diện rủi ro trước khi vi phạm lan rộng. Khi đó, nền tảng không chỉ là nơi cung cấp thông tin sau vụ việc, mà trở thành một mắt xích chủ động trong phòng ngừa hàng giả, gian lận thương mại và bảo vệ người tiêu dùng.

 

PV: Từ câu chuyện truy vết và nhận diện rủi ro, một vấn đề quan trọng khác là xử lý như thế nào khi phát hiện hàng hóa có khuyết tật. Dự thảo đã đưa ra những thời hạn khá cụ thể đối với việc ngừng cung cấp và thu hồi. Theo ông, các quy định này sẽ góp phần bảo vệ người tiêu dùng ra sao, và cần làm gì để việc thu hồi thực sự đến được với những người đã mua sản phẩm?

 

Ông Nguyễn Văn Thi: Tôi cho rằng, đây là bước quan trọng trong chuỗi bảo vệ người tiêu dùng, đó là phát hiện rủi ro đi liền với hành động nhanh và đúng đối tượng. Nếu truy vết giúp xác định sản phẩm, người bán và giao dịch có vấn đề thì cơ chế thu hồi phải bảo đảm những sản phẩm đó được ngăn khỏi thị trường và cảnh báo kịp thời đến người đã mua.

 

Theo dự thảo, khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện ngay các biện pháp cần thiết để ngừng cung cấp, về nguyên tắc trong vòng 24 giờ. Đối với hàng hóa thuộc nhóm A, việc công khai, thông báo thu hồi được thực hiện trong 3 ngày làm việc; nhóm B là 5 ngày làm việc.

 

Những mốc thời gian trên có ý nghĩa rất lớn, bởi thu hồi hàng hóa có khuyết tật trước hết là cuộc đua với thời gian. Một sản phẩm có nguy cơ gây thiệt hại càng tiếp tục được bán thì phạm vi ảnh hưởng càng rộng. Vì vậy, yêu cầu ngừng cung cấp trong thời gian ngắn sẽ giúp hạn chế việc sản phẩm tiếp tục đến tay người tiêu dùng, đồng thời tạo cơ sở để doanh nghiệp nhanh chóng triển khai các bước thu hồi tiếp theo.

 

Điểm đáng chú ý là trách nhiệm của doanh nghiệp không dừng ở việc thông báo thu hồi. Dự thảo còn yêu cầu báo cáo trước khi tiến hành và báo cáo kết quả sau khi hoàn thành. Nội dung phải làm rõ nguyên nhân thu hồi, nguy cơ gây thiệt hại, thời gian và phương thức thu hồi, biện pháp bảo vệ người tiêu dùng, chi phí, tổn thất dự kiến cũng như cam kết bồi thường nếu có.

 

Cách tiếp cận này là cần thiết, bởi nếu chỉ yêu cầu doanh nghiệp công bố thông tin mà không kiểm soát việc thu hồi thực tế thì nguy cơ sản phẩm tiếp tục lưu thông vẫn còn.

 

Tuy nhiên, trong thương mại điện tử, thu hồi còn có một yêu cầu đặc thù, phải tìm được đúng người đã mua hàng. Một sản phẩm có thể được bán đồng thời trên nhiều sàn, nhiều tài khoản, mạng xã hội hoặc qua các kênh bán hàng khác nhau. Vì vậy, thông báo chung trên website hay phương tiện truyền thông là chưa đủ. Nếu có dữ liệu giao dịch, nền tảng cần có khả năng xác định nhóm khách hàng đã mua sản phẩm và chuyển cảnh báo trực tiếp đến họ.

 

Đây chính là lúc dữ liệu và cơ chế cảnh báo phát huy vai trò. Truy vết tốt để biết hàng đã đi đâu, nhưng cảnh báo nhanh mới giúp ngăn thiệt hại tiếp diễn. Do đó, chính sách thu hồi hàng hóa có khuyết tật cần được thiết kế gắn chặt với trách nhiệm chia sẻ dữ liệu, cảnh báo người mua và phối hợp giữa doanh nghiệp, nền tảng và cơ quan quản lý.

 

PV: Theo ông, thời gian tới, chính sách bảo vệ người tiêu dùng cần thay đổi theo hướng nào để không bị chậm hơn thị trường?

 

Ông Nguyễn Văn Thi: Thị trường số đang thay đổi nhanh hơn tốc độ hoàn thiện chính sách. Giao dịch trên không gian mạng không còn phụ thuộc vào địa giới hành chính; nhiều chủ thể có thể ở nước ngoài, trong khi hoạt động quảng cáo, phân phối và đề xuất sản phẩm ngày càng được hỗ trợ bởi thuật toán.

 

Vì vậy, cuộc chiến với hàng giả và gian lận thương mại không thể chỉ dựa vào kiểm tra sau khi hàng đã được bán. Muốn giảm thiệt hại, phải kiểm soát được đường đi của một giao dịch: người bán là ai, hàng hóa từ đâu, được quảng cáo như thế nào, nền tảng biết gì về người bán và phản ứng ra sao khi xuất hiện dấu hiệu vi phạm.

 

Theo tôi, dự thảo cần tiếp tục hoàn thiện theo ba hướng sau:

 

Thứ nhất, làm rõ hơn trách nhiệm của nền tảng số, nhất là trong xác thực người bán, lưu giữ và cung cấp dữ liệu, xử lý tài khoản vi phạm và phối hợp khi có cảnh báo về hàng giả, hàng nguy hiểm hoặc sản phẩm có khuyết tật.

 

Thứ hai, xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu liên thông giữa các cơ quan. Đây phải là nền tảng để truy vết hàng hóa, nhận diện người bán vi phạm và rút ngắn thời gian xử lý.

 

Thứ ba, lấy người tiêu dùng làm trung tâm của cơ chế cảnh báo. Thông tin cảnh báo phải dễ hiểu, dễ tìm, đủ cụ thể và đến đúng nhóm người có nguy cơ bị ảnh hưởng.

 

Suy cho cùng, bảo vệ người tiêu dùng không chỉ là xử lý một giao dịch hay thu hồi một sản phẩm. Đó là bảo vệ niềm tin vào thị trường. Khi người tiêu dùng tin rằng mua hàng trên môi trường số là an toàn, minh bạch và khi quyền lợi bị xâm phạm luôn có cơ chế bảo vệ hiệu quả, thương mại điện tử mới có thể phát triển bền vững.

 

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Thái Hằng (thực hiện)


Tin liên quan:

| Mã Khác

Ý kiến bạn đọc :

<>

Quảng cáo

Về đầu trang