Thứ Năm, 05/03/2026 12:52:32 GMT+7
Lượt xem: 204

Tin đăng lúc 05-03-2026

Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh: Bước chuyển từ quản lý “phản ứng” sang quản trị rủi ro chủ động

Thị trường hàng hóa phái sinh không chỉ là “tấm lá chắn” giúp doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, kim loại, năng lượng phòng ngừa rủi ro giá, mà còn là công cụ giúp ổn định chi phí đầu vào, từ đó tác động trực tiếp đến thu nhập của nông dân và giá cả tiêu dùng. Tuy nhiên, hành lang pháp lý còn phân tán, rủi ro hệ thống chưa được kiểm soát đầy đủ, niềm tin thị trường khó có thể bền vững. Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Văn Thi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ cho rằng, dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh là bước chuyển từ quản lý “phản ứng” sang quản trị rủi ro chủ động, đặt nguyên tắc quyền đi đôi với nghĩa vụ làm nền tảng vận hành thị trường.
Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh: Bước chuyển từ quản lý “phản ứng” sang quản trị rủi ro chủ động
Việc luật hóa giới hạn vị thế tạo cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý chủ động can thiệp sớm khi phát sinh dấu hiệu rủi ro
PV: Nếu tiếp cận từ mục tiêu bảo vệ người tham gia thị trường, theo ông, trọng tâm dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh cần hướng đến là gì?
 
Ông Nguyễn Văn Thi: Trước đây, hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch chủ yếu được điều chỉnh rải rác trong Luật Thương mại năm 2005 và các nghị định hướng dẫn, với quy định còn mang tính khái quát. Hệ thống pháp lý khi đó chưa thiết kế đầy đủ cơ chế quản trị rủi ro hệ thống, chưa có mô hình thanh toán bù trừ độc lập, cũng như chưa phân loại nhà đầu tư để áp dụng cơ chế bảo vệ phù hợp.
 
Dự thảo Luật giao dịch hàng hóa phái sinh thiết lập một cấu trúc quản lý tích hợp và chuyên sâu. Điểm cốt lõi đề cập tại dự thảo là xây dựng khuôn khổ pháp lý chuyên biệt, đặt quyền và lợi ích hợp pháp của hai nhóm chủ thể trung tâm vào vị trí ưu tiên: (i) doanh nghiệp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro và (ii) nhà đầu tư tham gia nhằm mục tiêu sinh lợi chính đáng.
 
Một nội dung đáng chú ý khác là việc phân loại nhà đầu tư theo mức độ chuyên nghiệp và năng lực tài chính. Công cụ phái sinh có tính hiệu quả cao nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro lớn, vì vậy không thể áp dụng một chuẩn chung cho tất cả các chủ thể. Nhà đầu tư chuyên nghiệp cần không gian linh hoạt để triển khai chiến lược, trong khi nhà đầu tư cá nhân cần được bảo vệ khỏi những rủi ro vượt quá khả năng chịu đựng tài chính.
 
Việc phân loại này không mang tính hình thức mà là cơ sở để áp dụng các yêu cầu khác nhau về mức ký quỹ, giới hạn vị thế, cũng như nghĩa vụ cung cấp thông tin và cảnh báo rủi ro tương ứng với từng nhóm.
 
Song song đó, dự thảo Luật tăng cường mạnh mẽ nghĩa vụ công bố thông tin. Các dữ liệu như giá tham chiếu, khối lượng giao dịch, vị thế mở, thay đổi tỷ lệ ký quỹ… phải được cập nhật kịp thời và công khai. Minh bạch thông tin chính là nền tảng để nhà đầu tư tự đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
 
Tóm lại, bảo vệ nhà đầu tư không đồng nghĩa với việc loại bỏ rủi ro khỏi thị trường, mà là thiết lập một môi trường minh bạch, có cơ chế kiểm soát phù hợp, trong đó mỗi nhà đầu tư được tiếp cận đầy đủ thông tin và chỉ được tham gia trong phạm vi rủi ro tương thích với năng lực tài chính của mình.
 
PV: Một thị trường phái sinh an toàn cần kiểm soát đầu cơ và thao túng. Dự Luật mới xử lý vấn đề này ra sao, thưa ông?
 
Ông Nguyễn Văn Thi: Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, kim loại hay năng lượng, mục tiêu cốt lõi khi tham gia thị trường phái sinh là bảo hiểm rủi ro biến động giá. Khi cơ chế pháp lý bảo đảm sự tách bạch tài sản và an toàn thanh toán được thiết kế rõ ràng, doanh nghiệp sẽ có thêm niềm tin để sử dụng công cụ này như một giải pháp quản trị rủi ro thay vì e ngại các rủi ro pháp lý hoặc rủi ro hệ thống.
 
Dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh quy định nguyên tắc tách riêng tài sản của nhà đầu tư khỏi tài sản của thành viên kinh doanh và Sở giao dịch. Tài sản ký quỹ phải được quản lý độc lập, sử dụng đúng mục đích. Đặc biệt, việc hình thành Trung tâm CCP cùng với quỹ bảo đảm thanh toán giúp hạn chế nguy cơ lan truyền rủi ro khi một thành viên mất khả năng thanh toán. Đây được xem là “lá chắn” nền tảng để doanh nghiệp an tâm triển khai các giao dịch phái sinh phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
 
Một công cụ quan trọng khác là cơ chế giới hạn vị thế, tức là quy định mức tối đa số lượng hợp đồng mà một tổ chức hoặc cá nhân được nắm giữ đối với từng loại hàng hóa hay từng kỳ hạn. Khi một chủ thể tích lũy vị thế quá lớn, nguy cơ thao túng cung - cầu và gây biến động giá bất thường là rất rõ ràng, đặc biệt với các mặt hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, xuất khẩu và đời sống người nông dân.
 
Việc luật hóa giới hạn vị thế tạo cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý chủ động can thiệp sớm khi phát sinh dấu hiệu rủi ro. Tuy nhiên, cơ chế này cần được thiết kế linh hoạt, tránh làm suy giảm chức năng phòng ngừa rủi ro chính đáng của doanh nghiệp.
 
Song song đó là cơ chế giám sát dựa trên dữ liệu. Dự thảo yêu cầu kết nối dữ liệu giao dịch theo thời gian thực với cơ quan quản lý, tăng cường nghĩa vụ báo cáo đối với các vị thế lớn và áp dụng cơ chế ngừng giao dịch tự động khi thị trường biến động vượt ngưỡng. Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình “giám sát hành chính” sang “giám sát dựa trên rủi ro”, phù hợp với thông lệ quản lý thị trường hiện đại.
 
PV: Ông nhìn nhận ra sao về nguyên tắc “quyền gắn liền với nghĩa vụ” được thể hiện trong dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh?
 
Ông Nguyễn Văn Thi: Hiện nay, hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch do ngành Công Thương quản lý, trong khi các vấn đề liên quan đến thanh toán, kiểm soát dòng tiền, phòng chống rửa tiền hay giải quyết tranh chấp lại thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau. Sự phân tán này khiến trách nhiệm có phần chồng lấn, nhưng lại thiếu một cơ chế điều phối đủ mạnh ở tầm hệ thống để bảo đảm giám sát thống nhất.
 
Bên cạnh đó, Việt Nam chưa thiết lập được mô hình Trung tâm CCP độc lập theo thông lệ quốc tế. Rủi ro đối tác hiện chủ yếu được quản lý ở cấp từng thành viên. Khi quy mô thị trường ngày càng mở rộng, nếu một thành viên lớn rơi vào tình trạng mất thanh khoản, nguy cơ lan truyền rủi ro sang toàn hệ thống là điều có thể xảy ra.
 
Hạ tầng dữ liệu cũng chưa đồng bộ. Công tác cảnh báo sớm phần lớn vẫn dựa vào báo cáo định kỳ thay vì cơ chế giám sát theo thời gian thực. Trong bối cảnh giao dịch điện tử phát triển nhanh, rủi ro có thể phát sinh và lan rộng chỉ trong thời gian rất ngắn, đòi hỏi phương thức quản lý hiện đại và chủ động hơn.
 
 
 
 
Ông Nguyễn Văn Thi
 
 
Dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh được xây dựng nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn nêu trên. Theo đó, dự thảo cần làm rõ vai trò và trách nhiệm của từng chủ thể tham gia thị trường; chuẩn hóa nghĩa vụ báo cáo; thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu; đồng thời tăng cường chế tài đối với các hành vi vi phạm.
Nguyên tắc xuyên suốt của dự thảo là quyền luôn đi kèm với nghĩa vụ. Bảo vệ nhà đầu tư và doanh nghiệp không có nghĩa là Nhà nước đứng ra gánh thay rủi ro. Luật đặt ra các nghĩa vụ cụ thể như tuân thủ quy định về ký quỹ, báo cáo trung thực, không thao túng giá, không lạm dụng thông tin nội bộ và không thực hiện các giao dịch gian lận.
 
Khi quyền và nghĩa vụ được xác định rõ ràng, tài sản được tách bạch, giới hạn vị thế được kiểm soát, dữ liệu được giám sát theo thời gian thực và chế tài đủ sức răn đe, thị trường hàng hóa phái sinh sẽ vận hành an toàn, ổn định hơn. Mục tiêu cuối cùng không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ từng chủ thể tham gia, mà còn hướng tới củng cố niềm tin và sự bền vững của toàn thị trường.
 
PV: Dự thảo nhắc nhiều đến việc “tự chịu trách nhiệm”. Vậy trong trường hợp hệ thống của Sở giao dịch gặp sự cố kỹ thuật gây thiệt hại cho lệnh giao dịch của doanh nghiệp, Luật bảo vệ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) như thế nào?
 
Ông Nguyễn Văn Thi: Nguyên tắc “tự chịu trách nhiệm” là nền tảng của hoạt động đầu tư: doanh nghiệp phải tự cân nhắc và chấp nhận rủi ro phát sinh từ quyết định kinh doanh của mình. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc nhà đầu tư phải gánh chịu cả những thiệt hại xuất phát từ lỗi hệ thống. Dự thảo Luật đã thiết lập ranh giới rõ ràng giữa rủi ro thị trường và trách nhiệm vận hành, qua các cơ chế sau:
 
Thứ nhất, về trách nhiệm bồi thường, Sở giao dịch hàng hóa và Trung tâm CCP có nghĩa vụ bồi thường nếu thiệt hại của nhà đầu tư bắt nguồn từ sai sót trong quản lý, điều hành hoặc vận hành hệ thống. Như vậy, nguyên tắc tự chịu trách nhiệm không loại trừ trách nhiệm pháp lý của đơn vị cung cấp hạ tầng.
Thứ hai, về nghĩa vụ bảo đảm hạ tầng, Sở giao dịch phải duy trì hệ thống công nghệ thông tin an toàn, bảo mật và vận hành liên tục. Mọi sự cố kỹ thuật gây gián đoạn giao dịch trái quy định đều bị xem là vi phạm nghĩa vụ và có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường.
 
Thứ ba, về cơ chế can thiệp khẩn cấp, khi xảy ra sự cố nghiêm trọng đe dọa an toàn hệ thống, cơ quan quản lý có quyền áp dụng các biện pháp như tạm ngừng hoặc hạn chế giao dịch. Cơ chế này nhằm ngăn ngừa rủi ro lan rộng và bảo vệ lợi ích chung của thị trường.
 
Thứ tư, về giải quyết tranh chấp, nếu thiệt hại xảy ra, doanh nghiệp SMEs có thể yêu cầu bồi thường thông qua thương lượng, hòa giải do Sở giao dịch tổ chức; trường hợp không đạt được thỏa thuận, có thể khởi kiện tại Trọng tài thương mại hoặc Tòa án để bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
 
Từ nền tảng pháp lý đó, có thể thấy nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá của doanh nghiệp là chính đáng. Vì vậy, thay vì tìm đến các sàn “chui”, SMEs nên giao dịch thông qua các thành viên kinh doanh được cấp phép. Khi tham gia kênh chính thức, doanh nghiệp được bảo vệ tài sản ký quỹ theo cơ chế tách biệt; được tư vấn bởi nhân sự có chứng chỉ hành nghề; đồng thời có cơ hội tiếp cận các hợp đồng hàng hóa nội địa đã được chuẩn hóa và có khả năng kết nối với thị trường quốc tế.
 
PV: Trân trọng cảm ơn ông!
Thái Hằng (Thực hiện)

Tin liên quan:

| Mã Khác

Ý kiến bạn đọc :

<>

Quảng cáo

Về đầu trang