Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI sẽ xem xét, sửa đổi toàn diện Luật An toàn thực phẩm. Đây là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn bởi sau 15 năm thi hành, đạo luật này đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn, bất cập mang tính hệ thống: từ mô hình quản lý phân tán, cắt khúc giữa nhiều bộ, ngành; phương thức quản lý nặng về tiền kiểm, hành chính, phát sinh chi phí tuân thủ; đến việc thiếu vắng khung pháp lý điều chỉnh các mô hình kinh doanh trên không gian số, chuỗi cung ứng thực phẩm và thương mại điện tử.
Thống nhất một đầu mối quản lý, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) gồm 9 chương, 76 điều, được xây dựng theo hướng tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về bảo đảm an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh mới.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Y tế Đỗ Xuân Tuyên, sau khi tiếp thu, dự thảo Luật được tinh chỉnh từ 76 điều xuống còn 74 điều. Bố cục Dự thảo phản ánh rõ sự chuyển dịch từ tư duy quản lý hành chính sang xác lập mô hình quản lý hiện đại dựa trên dữ liệu số và kiểm soát nguy cơ theo chuỗi cung ứng.
Dự thảo bổ sung các chính sách ưu đãi cho đồng bào dân tộc thiểu số; nghĩa vụ của doanh nghiệp khi kinh doanh theo phương thức thương mại điện tử và bổ sung điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm của các cơ sở giao đồ ăn trực tuyến; quy định việc xây dựng Hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia…
Một trong những điểm mới căn bản nhất của Dự thảo Luật lần này là việc thống nhất một đầu mối quản lý từ Trung ương đến địa phương nhằm chấm dứt tình trạng phân tán chức năng quản lý an toàn thực phẩm giữa 3 Bộ như trước đây.
Thống nhất giao Bộ Y tế làm cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính về quản lý nhà nước đối với an toàn thực phẩm, trực tiếp là Cục An toàn thực phẩm. Ở cấp tỉnh: 34/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ thống nhất mô hình Chi cục An toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y tế.
Dự thảo Luật cũng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên quản lý nguy cơ, dành riêng một chương về hậu kiểm và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia theo dõi chuỗi cung ứng từ sản xuất, nuôi trồng, chế biến đến phân phối, tiêu thụ.
Cân nhắc khi Luật hóa quy định bắt buộc bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm
Theo báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành với sự cần thiết ban hành dự án Luật này. Đồng thời nhấn mạnh, hồ sơ dự án Luật cơ bản đủ điều kiện để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến trước khi trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2.
Cho ý kiến cụ thể về quy định bắt buộc bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm theo quy định của Chính phủ với hàm lượng do người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Trung ương quy định (khoản 3, Điều 16), Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (viết tắt là Thường trực Ủy ban) cho biết, việc mở rộng quy định bắt buộc bổ sung vi chất dinh dưỡng, chất khoáng, chất vi lượng vào tất cả các loại thực phẩm nói chung (thay cho quy định trước đây chỉ bắt buộc bổ sung đối với thực phẩm thiết yếu) là một thay đổi quá lớn, cần được đánh giá một cách hết sức thận trọng, kỹ lưỡng để bảo đảm phù hợp với thực tiễn, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và lợi ích đối với sức khỏe cộng đồng.
Trước mắt, Thường trực Ủy ban không nhất trí với việc mở rộng bắt buộc đối với toàn bộ thực phẩm phải bổ sung vi chất dinh dưỡng.
Đối với việc bắt buộc bổ sung vi chất đối với nhóm thực phẩm thiết yếu, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho rằng, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã có khuyến nghị về việc cần bổ sung vi chất đối với một số nhóm thực phẩm thiết yếu như muối (i-ốt), dầu ăn (vitamin A), gạo, bột mì (sắt, kẽm). Đây được xem là một trong những chính sách y tế công cộng có chi phí rẻ nhất nhưng lại hiệu quả nhất. Chính sách này đã được nhiều quốc gia áp dụng thành công (như ở châu Phi, châu Á).
Tuy nhiên, nếu việc bổ sung vi chất không được kiểm soát chặt chẽ (như việc định kỳ đo nồng độ i-ốt trong nước tiểu của người dân, điều chỉnh hàm lượng vi chất theo vùng...) thì có thể dẫn tới tình trạng vừa thiếu vừa thừa vi chất cùng lúc. Thí dụ: rủi ro thừa ở nhóm đã đủ chất hay i-ốt thừa gây bướu cổ, sắt thừa liên quan đến xơ gan, tiểu đường, kẽm thừa cản trở hấp thụ đồng…); có những nghiên cứu đã cảnh báo nếu chuẩn hóa quá mức về vi chất có thể dẫn tới hơn 15% dân số toàn cầu có thể thừa i-ốt và kẽm.
Do vậy, Thường trực Ủy ban đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo hết sức cân nhắc thận trọng, kỹ lưỡng khi Luật hóa quy định này.
Trường hợp luật hóa, đề nghị bắt buộc phải bổ sung thêm 1 khoản vào Điều 16 của dự thảo Luật quy định về mặt nguyên tắc đối với việc giám sát để bảo đảm bổ sung đúng nhóm đối tượng thiếu vi chất, không để xảy ra rủi ro thừa đối với nhóm đã đủ vi chất gây tác hại cho sức khỏe.
Bên cạnh đó, Thường trực Ủy ban cũng đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo rõ hơn về những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn triển khai Nghị định số 09/2016/NĐ-CP trong thời gian qua; trên cơ sở đó, đánh giá tác động đầy đủ, đa chiều đối với chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và tính khả thi của chuỗi sản xuất.
“Việc luật hóa quy định bắt buộc bổ sung vi chất dinh dưỡng tại khoản 3 Điều 16 cần phải dựa trên các nguyên tắc chặt chẽ, gồm: Có bằng chứng dịch tễ học rõ ràng về sự thiếu hụt vi chất trong cộng đồng; Qua đánh giá nguy cơ và đánh giá tác động kinh tế; Miễn trừ áp dụng đối với thực phẩm dùng làm nguyên liệu chế biến công nghiệp và thực phẩm sản xuất phục vụ xuất khẩu; Định kỳ rà soát, điều chỉnh danh mục và hàm lượng theo kết quả giám sát dinh dưỡng quốc gia”, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhấn mạnh.
Tiềm ẩn nguy cơ ách tắc hành chính và phát sinh giấy phép con
Cho ý kiến về biện pháp quản lý sản phẩm thực phẩm (từ Điều 46 đến Điều 50), Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành với việc phân hóa biện pháp quản lý theo mức độ rủi ro là đúng hướng, phù hợp Điều 5 Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS).
Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban cho rằng các quy định tại Điều 46 khi đặt vào thực tiễn áp dụng sẽ chưa thực sự tối ưu, thiếu tiêu chí định lượng, tiềm ẩn nguy cơ ách tắc hành chính và phát sinh giấy phép con.
Lý do được Thường trực Ủy ban chỉ ra là: Việc quy định nghĩa vụ bắt buộc “Đăng ký bản công bố sản phẩm” (thực chất là thủ tục tiền kiểm, cơ quan nhà nước thẩm định và cấp phép) tại điểm a khoản 2 Điều 46 đang chứa đựng những bất cập kỹ thuật, tiêu chí phân loại mang tính định tính cao, thiếu tính khả thi và có nguy cơ cao trở thành “nút thắt” mới gây ách tắc thủ tục hành chính khi đi vào thực tiễn.
Do đó, Thường trực Ủy ban đề nghị nghiên cứu, sửa đổi lại điểm a khoản 2 Điều 46 theo hướng thu hẹp diện tiền kiểm, chỉ áp dụng bắt buộc Đăng ký bản công bố đối với 2 nhóm có rủi ro cao là: Thực phẩm bảo vệ sức khỏe có chứa chất mới/có công dụng hỗ trợ điều trị bệnh và Thực phẩm dinh dưỡng y học dùng theo chỉ định của bác sĩ, sản phẩm dinh dưỡng công thức chuyên biệt cho trẻ dưới 36 tháng tuổi, phụ nữ có thai.
Cùng đó, chuyển toàn bộ các nhóm thực phẩm bổ sung, thực phẩm chế biến thông thường còn lại sang cơ chế Công bố tiêu chuẩn sản phẩm (tự công bố, cho phép lưu thông ngay sau khi nộp hồ sơ qua hệ thống dữ liệu số) để cơ quan nhà nước tập trung nguồn lực thực hiện hậu kiểm trên thị trường.
Một lý do khác cũng được Thường trực Ủy ban chỉ ra là việc thiết kế nội dung tại dự thảo Luật đang bộc lộ sự “cắt khúc" và mâu thuẫn trong chính cấu trúc logic quản lý của Luật giữa chế định phân tích nguy cơ (Điều 43) và chế định hình thức công bố sản phẩm (Điều 46), gây lúng túng cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan thực thi khi đi vào thực tiễn. Vì vậy, Thường trực Ủy ban đề nghị rà soát, chỉnh lý lại nội dung Điều 43 và 46 theo hướng: phải lấy kết quả phân tích nguy cơ/mức độ rủi ro làm “kim chỉ nam” và căn cứ gốc để thiết kế các hình thức thủ tục hành chính tại Điều 46.
Chỉ áp dụng biện pháp tiền kiểm đăng ký bản công bố đối với các sản phẩm thuộc nhóm nguy cơ cao hoặc có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp, nguy hiểm đến sức khỏe người tiêu dùng; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng một sản phẩm nguy cơ thấp lại phải chịu thủ tục tiền kiểm phức tạp chỉ vì các thông tin khuyến cáo dinh dưỡng trên nhãn.
Theo đánh giá của Thường trực Ủy ban, các quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 46 về nghĩa vụ phải thực hiện thủ tục “đăng ký lại” hoặc “thông báo bổ sung” khi có sự thay đổi thông tin sản phẩm đang mang tính cơ học, chưa phản ánh đúng quy luật vận hành của sản xuất công nghiệp hiện đại và sẽ tạo ra gánh nặng chi phí tuân thủ rất lớn cho doanh nghiệp.
Do đó, Thường trực Ủy ban đề nghị nghiên cứu, sửa đổi rõ theo hướng: Chỉ bắt buộc “Đăng ký lại” hoặc “Thông báo sửa đổi” đối với những thay đổi cốt lõi làm thay đổi bản chất an toàn, nhóm đối tượng sử dụng chính hoặc công dụng/khuyến cáo sức khỏe của sản phẩm; cho phép cơ chế “Tự cập nhật và báo cáo định kỳ” đối với các thay đổi nhỏ mang tính kỹ thuật (như thay đổi nhà cung cấp nguyên liệu cùng tiêu chuẩn chất lượng, điều chỉnh tỷ lệ phụ gia/hương liệu trong ngưỡng cho phép của Quy chuẩn kỹ thuật, thay đổi dung tích/khối lượng bao bì). Doanh nghiệp chỉ cần tự lưu hồ sơ kỹ thuật tại cơ sở và cập nhật thông tin lên Hệ thống dữ liệu số quốc gia mà không phải dừng sản xuất hay chờ đợi thủ tục chấp thuận từ cơ quan quản lý.
Nguồn: Nhandan.vn