Việc ban hành Thông tư số 66/2026/TT-BCT ngày 06/10/2026 của Bộ Công Thương quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia (KCQG) và Thông tư số 139/2026/TT-BTC ngày 25/09/2026 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khuyến công thay thế những văn bản cũ đã lỗi thời, không chỉ giải quyết triệt để các vướng mắc về mặt thủ tục tài chính, quản lý đề án mà còn mở ra không gian phát triển mới cho các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT).
Đẩy mạnh số hóa quản lý, ưu tiên đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thúc đẩy liên kết chuỗi
Thông tư 66/2026/TT-BCT (gọi tắt là Thông tư 66) thay thế các văn bản ban hành trước đây gồm: Thông tư 46/2012/TT-BCT, Thông tư 20/2017/TT-BCT, Thông tư 36/2013/TT-BCT và Thông tư 17/2018/TT-BCT. Đây là cột mốc đánh dấu sự thay đổi căn bản trong tư duy quản lý nhà nước về khuyến công quốc gia với nhiều điểm ưu việt, nổi bật.
Lần đầu tiên, toàn bộ quy trình từ đề xuất, đánh giá, xét chọn, giao kế hoạch, triển khai đến tạm ứng, thanh toán, quyết toán kinh phí khuyến công quốc gia được chuẩn hóa và thực hiện trên phần mềm điện tử dùng chung. Việc này sẽ giúp rút ngắn tối đa thời gian xử lý hồ sơ và giảm thiểu chi phí đi lại cho địa phương.
Thông tư cũng phân định rõ ràng trách nhiệm đánh giá 2 cấp (cấp cơ sở và cấp Bộ), trong đó, Sở Công Thương chịu trách nhiệm đánh giá cấp cơ sở về tính hợp pháp, tính thực tiễn và năng lực đối tượng; Cục Công nghiệp tập trung đánh giá cấp Bộ về tính liên vùng, mức độ ưu tiên và cân đối nguồn vốn. Cục Công nghiệp không đánh giá lại các nội dung đã thuộc trách nhiệm của Sở, trừ trường hợp cần thiết theo yêu cầu quản lý hoặc phát hiện thông tin cần kiểm tra, xác minh. Việc này giúp xóa bỏ tình trạng chồng chéo thẩm định gây kéo dài thời gian.
Một điểm mới nữa đó là tăng cường phân cấp điều chỉnh đề án. Theo đó, Sở Công Thương được chủ động quyết định thay đổi địa điểm trong tỉnh, thay đổi đối tượng thụ hưởng, đơn vị phối hợp, điều chỉnh thông số kỹ thuật máy móc (miễn là tương đương hoặc tốt hơn) và cơ cấu chi tiết dự toán mà không cần trình Bộ Công Thương. Tất nhiên, việc điều chỉnh này phải đảm bảo không làm thay đổi mục tiêu, dự kiến kết quả đạt được, nội dung hoạt động khuyến công và tổng mức kinh phí hỗ trợ đề án.
Đặc biệt, Thông tư đưa tư duy chuỗi giá trị, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số vào tiêu chí ưu tiên. Tức là, các đề án thúc đẩy liên kết sản xuất, ứng dụng công nghệ tự động hóa, chuyển đổi xanh, giảm phát thải… được xếp thứ tự ưu tiên cao khi xét chọn.
Có thể nói, với những điểm nổi bật trên, Thông tư 66 được kỳ vọng sẽ tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động KCQG, hỗ trợ các cơ sở CNNT đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển theo hướng bền vững.
Khơi thông nguồn vốn, tăng mức hỗ trợ
Thay thế Thông tư 28/2018/TT-BTC hướng dẫn lập, quản lý, sử dựng kinh phí khuyến công và Thông tư 64/2024/TT-BTC sửa đổi một số điều của Thông tư 28/2018/TT-BTC, Thông tư 139/2026/TT-BTC (gọi tắt là Thông tư 139) mang đến "luồng gió mới" về định mức chi, giải quyết được bài toán bù đắp trượt giá và nâng cao sức hấp dẫn của nguồn vốn khuyến công.
Cụ thể, nâng mạnh hạn mức hỗ trợ kinh phí cho các nội dung cốt lõi như: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật công nghệ mới, mức hỗ trợ tối đa nâng từ 01 tỷ đồng lên 1,6 tỷ đồng/mô hình (tăng 60%). Mô hình sản xuất sạch hơn, sản xuất bền vững, hỗ trợ tối đa đến 800 triệu đồng/mô hình. Hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, mức hỗ trợ nâng từ 300 triệu đồng lên 480 triệu đồng/cơ sở; riêng đối với hỗ trợ dây chuyền công nghệ tiên tiến, mức hỗ trợ tối đa lên đến 720 triệu đồng/cơ sở (gấp 1,5 lần). Còn với đề án xử lý ô nhiễm môi trường tại cụm công nghiệp, hỗ trợ hệ thống xử lý nước thải, khí thải tại cụm công nghiệp lên tới 2 tỷ đồng/cụm. Đáng chú ý, đối với các đề án thực hiện tại địa bàn ưu tiên, ngành nghề ưu tiên, mức kinh phí hỗ trợ được phép phê duyệt tối đa lên tới 1,5 lần mức hỗ trợ thông thường.

Nguồn lực khuyến công được định hướng tập trung mạnh hơn vào đổi mới công nghệ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, liên kết sản xuất
Cùng với đó, đối với hoạt động tổ chức bình chọn và trao giấy chứng nhận sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp quốc gia, mức hỗ trợ nâng từ 400 triệu đồng/lần lên không quá 600 triệu đồng/lần; tiền thưởng cho sản phẩm được bình chọn cấp quốc gia nâng từ 10 triệu đồng/sản phẩm lên không quá 20 triệu đồng/sản phẩm. Chi hỗ trợ xây dựng và đăng ký nhãn hiệu đối với sản phẩm CNNT nâng từ 35 triệu đồng/nhãn hiệu lên tối đa 55 triệu đồng/nhãn hiệu…
Đặc biệt, chi phí quản lý dành cho tổ chức thực hiện dịch vụ khuyến công được nâng lên tối đa 4% dự toán, riêng địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn nâng lên 5% dự toán, qua đó, giúp các Trung tâm Khuyến công yên tâm bám sát địa bàn.
Một nội dung đáng chú ý của Thông tư số 139 là mức chi quy định trong Thông tư được xác định là mức chi tối đa. Hội đồng nhân dân cấp (HĐND) tỉnh quyết định mức chi cụ thể tại địa phương, phù hợp với tình hình thực tiễn và khả năng cân đối ngân sách.
Trường hợp địa phương chưa ban hành văn bản quy định mức chi, cơ quan, đơn vị có thể áp dụng mức chi tại Thông tư 139 để thực hiện. HĐND cấp tỉnh cũng có thể quyết định nội dung, mức chi khác phục vụ công tác khuyến công căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, tình hình thực tế và khả năng cân đối ngân sách địa phương, bảo đảm phù hợp với pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và các quy định liên quan.
Quy định này tạo dư địa để chính sách khuyến công được điều chỉnh phù hợp hơn với đặc điểm từng địa bàn, đồng thời vẫn đặt trong khuôn khổ quản lý ngân sách và khả năng cân đối nguồn lực của địa phương.
Về lập và phân bổ dự toán đối với kinh phí KCQG và KCĐP, trách nhiệm hạch toán, quyết toán… cũng được quy định rõ ràng trong Thông tư 139.
Có thể thấy, Thông tư mới đã cập nhật đồng bộ cơ chế lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khuyến công trong khuôn khổ pháp luật ngân sách mới, đồng thời bổ sung các nội dung hỗ trợ liên quan đến công nghệ, chuyển đổi số, sản xuất sạch hơn, xúc tiến thương mại và xử lý môi trường, qua đó, tạo cơ sở để nguồn lực khuyến công được gắn chặt hơn với yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất và phát CNNT trong giai đoạn mới.
Có thể nói, việc ban hành Thông tư 66 về cơ chế quản lý, quy trình thủ tục và Thông tư 139 về định mức tài chính, cơ chế thanh quyết toán đã tạo nên một hành lang pháp lý hoàn chỉnh và thực tiễn cho hoạt động khuyến công. Với những quy định mới này sẽ giúp các cơ sở CNNT dễ dàng hơn trong việc tiếp cận chính sách, giảm thiểu chi phí phi chính thức và thủ tục rườm rà. Đặc biệt là việc tăng mức hỗ trợ sẽ giúp giảm bớt áp lực vốn đầu tư ban đầu, tạo đòn bẩy thúc đẩy các cơ sở CNNT mạnh dạn đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Cùng với đó, nguyên tắc tập trung hỗ trợ theo chuỗi liên kết, cụm công nghiệp và vùng tiềm năng sẽ giúp dòng vốn khuyến công phát huy tác dụng lan tỏa rộng lớn thay vì đầu tư nhỏ lẻ, dàn trải.
Không chỉ các cơ sở CNNT hưởng lợi mà cơ quan quản lý nhà nước cũng được nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Việc quản lý dữ liệu tập trung qua Hệ thống thông tin khuyến công quốc gia giúp cơ quan quản lý dễ dàng giám sát tiến độ, chống trùng lặp nguồn vốn ngân sách.
Đặc biệt, việc giao quyền chủ động cho địa phương đi kèm với tăng cường hậu kiểm sẽ giúp bộ máy vận hành linh hoạt hơn, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu các Sở Công Thương.
Chia sẻ tại Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công do Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Sơn La tổ chức mới đây, ông Nguyễn Văn Thịnh - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp khẳng định: “Khung chính sách mới không chỉ thay thế một số văn bản cũ mà đang hình thành cách tiếp cận mới, trong đó làm rõ hơn đối tượng và nội dung hỗ trợ; tăng phân cấp gắn với trách nhiệm; giảm trùng lặp trong đánh giá và thúc đẩy số hóa quy trình. Đồng thời, nguồn lực khuyến công được định hướng tập trung mạnh hơn vào đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, liên kết sản xuất và mở rộng thị trường”. “Khuyến công trong giai đoạn mới cần chuyển mạnh từ tư duy “hỗ trợ một hạng mục” sang “tạo năng lực phát triển”, bao gồm năng lực công nghệ, quản trị, thị trường và khả năng tham gia chuỗi giá trị cho các cơ sở CNNT” – Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp nhấn mạnh.
Có thể khẳng định, bộ đôi Thông tư 66/2026/TT-BCT và 139/2026/TT-BTC chính là “điểm sáng”, là "luồng sinh khí mới" cho hoạt động khuyến công. Đây không chỉ là bước tiến quan trọng về cải cách thủ tục hành chính mà còn là nền tảng vững chắc đưa CNNT triển hiện đại, xanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Minh Vũ