Để hiểu thêm về Chiến lược quốc gia phát triển nền Y học cổ truyền Việt Nam, phóng viên đã trao đổi với VS.GS.TS Nguyễn Việt Phương; qua đó cho thấy định hướng phát triển Y học cổ truyền của nhà nước ngày càng có ý nghĩa quyết định, tạo động lực thúc đẩy liên kết nghiên cứu, đào tạo, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.
Phóng viên: Thưa VS.GS.TS, ông đánh giá thế nào về ý nghĩa của chủ trương mới trong phát triển Y học cổ truyền Việt Nam?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Việc ban hành Chiến lược quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045 cho thấy Y học cổ truyền được đặt trong một định hướng phát triển dài hạn, gắn với nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Theo tôi, đây vừa là sự ghi nhận giá trị của tri thức y học dân tộc, vừa đặt ra yêu cầu phát triển lĩnh vực này theo hướng khoa học, có chất lượng và phù hợp với hệ thống y tế hiện đại.
Chiến lược không chỉ nói đến việc bảo tồn những bài thuốc hay phương pháp truyền thống mà còn định hướng phát triển đồng bộ từ nghiên cứu, đào tạo, khám chữa bệnh đến dược liệu và công nghiệp dược liệu; đồng thời nhấn mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Phóng viên: Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị có vai trò như thế nào trong định hướng này?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 đề cập các giải pháp đột phá nhằm tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Quyết định phê duyệt Chiến lược Y học cổ truyền năm 2026 viện dẫn nghị quyết này làm một trong những căn cứ, qua đó nối định hướng chung về sức khỏe nhân dân với các nhiệm vụ cụ thể hơn cho lĩnh vực Y học cổ truyền.
Điều cần thiết là đưa chủ trương vào thực tiễn: phát triển nhân lực, nâng năng lực y tế cơ sở, củng cố chất lượng chuyên môn và tạo điều kiện để người dân được tiếp cận dịch vụ phù hợp, an toàn.
Phóng viên: Chiến lược đặt ra những mục tiêu đáng chú ý nào đến năm 2030?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Có một số mục tiêu cho thấy quy mô và yêu cầu triển khai khá rõ. Đến năm 2030, chiến lược đặt mục tiêu 100% tỉnh, thành phố có bệnh viện Y học cổ truyền; 100% trạm y tế cấp xã đủ năng lực cung ứng dịch vụ y học cổ truyền và 100% chương trình đào tạo đại học khối ngành sức khỏe có học phần về lĩnh vực này. Chiến lược cũng đặt mục tiêu số hóa ít nhất 70% tri thức y học cổ truyền Việt Nam đã được điều tra, sưu tầm và xác minh.
Những con số này không chỉ là chỉ tiêu về tổ chức hay đào tạo. Chúng đặt ra yêu cầu về đội ngũ, cơ sở vật chất, quy trình chuyên môn, dữ liệu đáng tin cậy và sự phối hợp giữa các cơ sở y tế, viện nghiên cứu, trường đại học và địa phương.
Phóng viên: Vì sao cần kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại thay vì xem hai lĩnh vực là hai hướng đối lập?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Tôi cho rằng không nên đặt hai lĩnh vực vào thế đối lập. Mỗi phương pháp cần được xem xét theo bằng chứng, chỉ định và năng lực chuyên môn phù hợp. Y học cổ truyền có thể đóng góp vào chăm sóc sức khỏe và một số hoạt động điều trị, phục hồi chức năng; Y học hiện đại góp phần hỗ trợ chẩn đoán, đánh giá hiệu quả, theo dõi an toàn và nhận diện nguy cơ.
Chiến lược mới nhấn mạnh kết hợp hài hòa hai lĩnh vực, đồng thời yêu cầu chuẩn hóa hướng dẫn chuyên môn, nghiên cứu an toàn và hiệu quả của thuốc cổ truyền cũng như phương pháp điều trị. Đây là hướng phát triển giúp kế thừa kinh nghiệm quý mà vẫn đặt sự an toàn của người bệnh lên hàng đầu.
Phóng viên: Vậy làm thế nào để vừa bảo tồn tri thức truyền thống, vừa tránh việc truyền thông hoặc thương mại hóa quá mức?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Cần tách bạch giữa giá trị văn hóa, kinh nghiệm dân gian và những tuyên bố về hiệu quả điều trị. Một bài thuốc hay phương pháp được lưu truyền cần được ghi chép, xác minh, nghiên cứu và đánh giá phù hợp trước khi khẳng định công dụng hoặc đưa vào ứng dụng rộng rãi. Không nên quảng cáo theo hướng chữa khỏi mọi bệnh, thay thế điều trị cần thiết, hay khuyến khích người bệnh tự ý ngưng thuốc đang được bác sĩ chỉ định.
Chiến lược cũng đặt ra yêu cầu tăng cường nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng, hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng và quản lý thông tin trong lĩnh vực y học cổ truyền. Theo tôi, đây là những điều kiện quan trọng để tạo niềm tin cho người dân và nâng cao uy tín của nền y học cổ truyền Việt Nam.
Phóng viên: Phát triển vùng dược liệu có thể mang lại lợi ích gì ngoài lĩnh vực y tế?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Nếu được quy hoạch và quản lý tốt, vùng dược liệu có thể gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất, chế biến và tạo sinh kế cho người dân. Chiến lược nêu định hướng phát triển vùng trồng theo tiêu chuẩn, tăng cường truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, người dân với cơ sở khám chữa bệnh. Văn bản cũng lưu ý việc ưu tiên khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với bảo tồn tri thức bản địa và sinh kế bền vững.
Muốn phát triển bền vững thì phải quan tâm đồng thời đến chất lượng dược liệu, bảo tồn nguồn gen, quyền lợi của cộng đồng nắm giữ tri thức và hiệu quả kinh tế của người trồng. Không thể chỉ khai thác tài nguyên hoặc tri thức truyền thống mà thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng.
Phóng viên: Ông kỳ vọng điều gì ở các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và doanh nghiệp trong giai đoạn tới?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Tôi kỳ vọng các bên cùng tham gia nhưng đúng vai trò và tuân thủ quy định. Viện, trường và bệnh viện cần tăng cường nghiên cứu, đào tạo và đánh giá chuyên môn; doanh nghiệp có thể đầu tư vào phát triển sản phẩm, công nghệ và chuỗi cung ứng đạt chuẩn; còn cơ quan quản lý cần bảo đảm khung pháp lý, tiêu chuẩn chất lượng và cơ chế giám sát phù hợp.
Chiến lược cũng đề cập việc thúc đẩy hợp tác giữa cơ sở khám chữa bệnh, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm. Theo tôi, thương mại hóa chỉ nên đi sau yêu cầu về chất lượng, an toàn, bằng chứng và bảo vệ quyền lợi người bệnh.
Phóng viên: Thông điệp ông muốn gửi đến người dân là gì?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Y học cổ truyền là một phần di sản tri thức quý báu, nhưng phát triển lĩnh vực này cần dựa trên hiểu biết đúng, người hành nghề đủ chuyên môn và sản phẩm có nguồn gốc, chất lượng rõ ràng. Người dân nên trao đổi với bác sĩ, cán bộ y tế có chuyên môn trước khi dùng thuốc hoặc kết hợp các phương pháp điều trị, đặc biệt khi đang mắc bệnh mạn tính, dùng nhiều loại thuốc, mang thai hoặc chăm sóc trẻ nhỏ.
Mục tiêu cuối cùng không phải là tôn vinh một phương pháp riêng lẻ, mà là phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe an toàn, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm. Khi tri thức truyền thống được bảo tồn có chọn lọc, nghiên cứu nghiêm túc và kết hợp hợp lý với thành tựu y học hiện đại, Y học cổ truyền Việt Nam mới có thể đóng góp ngày càng thiết thực cho sức khỏe cộng đồng.
Phóng viên: Từ chủ trương phát triển Y học cổ truyền gắn với khoa học và công nghệ, ông đang theo đuổi hướng nghiên cứu, ứng dụng nào?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Bên cạnh việc quan tâm đến bảo tồn và phát triển tri thức y học cổ truyền, tôi đang theo đuổi hướng nghiên cứu, ứng dụng sinh chất thảo mộc Dr. Viet Phuong kết hợp với công nghệ Terahertz. Từ hướng đi này, chúng tôi mong muốn xây dựng chuỗi hệ thống chăm sóc sức khỏe chủ động Dr. Viet Phuong, đồng thời hướng đến khả năng hoàn thiện và chuyển giao công nghệ trong tương lai.
Tôi xem đây là một hướng nghiên cứu cần được phát triển bài bản, có quy trình, tiêu chuẩn chất lượng và dữ liệu đánh giá phù hợp. Việc kết hợp dược liệu với công nghệ mới cần được kiểm chứng về độ an toàn, hiệu quả và phạm vi ứng dụng; không nên chỉ dựa vào tên gọi công nghệ hay những lời giới thiệu quảng bá.
Phóng viên: Ông kỳ vọng chuỗi hệ thống chăm sóc sức khỏe chủ động này sẽ đóng góp thế nào cho việc phát triển y học cổ truyền?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Kỳ vọng của tôi là góp phần tạo thêm một mô hình để nghiên cứu và ứng dụng tri thức thảo mộc theo hướng có tổ chức, đồng thời kết nối nghiên cứu với hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Nếu được hoàn thiện trên cơ sở khoa học, tuân thủ quy định và chứng minh được tính an toàn, hiệu quả phù hợp với từng ứng dụng, mô hình có thể được xem xét mở rộng và chuyển giao công nghệ.
Điều quan trọng là phải phân biệt rõ giữa định hướng nghiên cứu, sản phẩm đang phát triển và phương pháp đã được đánh giá, cấp phép cho mục đích cụ thể. Hệ thống này không thay thế việc khám, chẩn đoán hay điều trị của cơ sở y tế và nhân viên y tế có chuyên môn.
Phóng viên: Ông nhấn mạnh vai trò của chuyển giao công nghệ ra sao?
VS. GS. TS. Nguyễn Việt Phương: Chuyển giao công nghệ không chỉ là đưa một sản phẩm ra thị trường. Cần có hồ sơ về quy trình, tiêu chuẩn chất lượng, quyền sở hữu trí tuệ, đào tạo người tiếp nhận và cơ chế theo dõi sau chuyển giao. Với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, yêu cầu về an toàn, bằng chứng và tuân thủ quy định phải được đặt lên trước mục tiêu thương mại hóa.
Tôi mong hướng nghiên cứu sinh chất thảo mộc Dr. Viet Phuong kết hợp với công nghệ Terahertz có thể tiếp tục được đánh giá, hoàn thiện và nếu đáp ứng các yêu cầu cần thiết thì tiến tới chuyển giao phù hợp. Đó cũng là cách để sáng kiến khoa học gắn với trách nhiệm xã hội và lợi ích thiết thực của người dân.
Phóng viên: Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!
| Trong cuộc trao đổi, ông Nguyễn Việt Phương cũng chia sẻ về hướng nghiên cứu, ứng dụng sinh chất thảo mộc Dr. Viet Phuong kết hợp công nghệ Terahertz, với mục tiêu xây dựng chuỗi hệ thống chăm sóc sức khỏe chủ động và hướng tới chuyển giao công nghệ sau quá trình hoàn thiện, đánh giá cần thiết. |
An An