Tuyên Quang có lợi thế tự nhiên phát triển cây chè, đồng thời xác định đây là cây trồng chủ lực phục vụ nội địa lẫn xuất khẩu. Dù vùng nguyên liệu từng bước được chuẩn hóa nhưng giá trị kinh tế mang lại vẫn chưa tương xứng. Toàn tỉnh hiện có hơn 50 cơ sở, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến chè, song phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu sử dụng máy móc bán tự động cũ hoặc sao sấy thủ công. Do thiếu thiết bị kiểm soát thông số kỹ thuật, tỷ lệ lẫn cẫng, vụn nát và lá biến màu còn cao khiến chất lượng thiếu đồng đều. Phần lớn sản phẩm vì thế vẫn phải xuất bán dưới dạng chè xô nguyên liệu với giá trị thương mại thấp.
Khi thị trường nhập khẩu siết chặt quy định về dư lượng, an toàn thực phẩm và ngoại quan, máy móc chế biến lạc hậu trở thành điểm nghẽn kìm hãm năng lực cạnh tranh của chè Tuyên Quang. Nhằm gỡ nút thắt này, Bộ Công Thương đã phối hợp cùng tỉnh Tuyên Quang triển khai Chương trình Khuyến công quốc gia, ưu tiên nguồn lực hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến để nâng cao chất lượng chè xuất khẩu. Cụ thể, giai đoạn 2021 - 2025, nguồn kinh phí được phân bổ có trọng tâm vào các khâu kỹ thuật then chốt, giúp cơ sở sản xuất giảm bớt gánh nặng chi phí ban đầu, đồng thời tạo động lực để các doanh nghiệp, hợp tác xã đối ứng vốn đầu tư công nghệ mới.
Giai đoạn 2017 - 2022, nguồn khuyến công quốc gia đã phân bổ 7,4 tỷ đồng hỗ trợ các ngành công nghiệp nông thôn thế mạnh của Tuyên Quang. Đến năm 2025, quy mô hỗ trợ tiếp tục được mở rộng khi kinh phí khuyến công quốc gia chiếm 5,174 tỷ đồng (gồm 8 đề án và 2 nhiệm vụ chuyên môn) trong tổng số hơn 8,1 tỷ đồng kinh phí khuyến công toàn tỉnh. Dòng vốn này được triển khai đồng bộ với chương trình bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu (RISEP) cùng nhiều hoạt động kết nối giao thương.
Hội đồng Nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Nghị quyết số 42/2025/NQ-HĐND (hiệu lực từ ngày 01/01/2026) nhằm tạo cơ chế dài hạn cho đổi mới công nghệ. Theo đó, tỉnh hỗ trợ tối đa 50% chi phí mua sắm máy móc tiến bộ kỹ thuật (không quá 300 triệu đồng/cơ sở), nâng mức hỗ trợ dây chuyền đồng bộ lên tối đa 450 triệu đồng và mô hình trình diễn kỹ thuật lên tới 1 tỷ đồng. Khung chính sách này giúp kết nối hiệu quả nguồn lực địa phương với trung ương, tạo điểm tựa cho các cơ sở chế biến đầu tư bài bản.
Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ đã trực tiếp lan tỏa đến nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã trên địa bàn. Tại Công ty Cổ phần Chè Hùng An (xã Hùng An), doanh nghiệp chuyên chế biến chè đen và chè xanh phục vụ các thị trường như Đài Loan, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, đề án được nghiệm thu cuối năm 2025 đã trang bị hệ thống máy tách màu chè và tách cẫng tự động công suất 1.200 kg/giờ. Hệ thống sử dụng cảm biến quang học nhận diện màu sắc, kích thước hạt chè để loại bỏ cẫng cũng như tạp chất tự động. Với khoản hỗ trợ 300 triệu đồng từ nguồn Khuyến công quốc gia, doanh nghiệp đã đối ứng nguồn vốn để hoàn thành dự án có tổng mức đầu tư 1,68 tỷ đồng (hệ thống thiết bị chuyên dùng trị giá trên 2 tỷ đồng). Thiết bị mới giúp giảm bớt nhân công thủ công, bảo đảm độ đồng đều của thành phẩm, góp phần đưa sản lượng xuất khẩu năm 2025 của đơn vị đạt trên 2.000 tấn, doanh thu vượt 60 tỷ đồng và nộp ngân sách Nhà nước 4,6 tỷ đồng.
Ở mô hình điểm, Công ty Cổ phần Chè Sông Lô (xã Kim Phú) đã phối hợp với Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Khuyến công (Bộ Công Thương) hoàn thiện dây chuyền chế biến chè đen tự động phục vụ xuất khẩu. Hệ thống cho phép giám sát và điều khiển chính xác quá trình lên men cùng các công đoạn kỹ thuật then chốt. Nhờ dây chuyền vận hành ổn định, doanh nghiệp mở rộng thị trường đối tác, đưa sản lượng xuất khẩu chè xanh và chè đen năm 2024 đạt hơn 4.700 tấn.
Ở khối kinh tế tập thể, năm 2021, Hợp tác xã Dịch vụ Sản xuất Nông nghiệp Sử Anh được nguồn Khuyến công quốc gia hỗ trợ 200 triệu đồng đầu tư hệ thống máy sao chè bằng gas liên hoàn và máy đóng gói hút chân không. Khả năng kiểm soát nhiệt độ chuẩn xác trong khâu diệt men cũng như lấy hương giúp đơn vị nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện tiêu chuẩn OCOP 4 sao cho Chè xanh Ngọc Thúy và OCOP 3 sao cho Chè xanh Phú Lâm, duy trì doanh thu trên 5 tỷ đồng mỗi năm và tạo việc làm cho 50 lao động.
Cùng với nguồn lực quốc gia, kinh phí khuyến công địa phương cũng tạo trợ lực rõ nét tại các vùng chuyên canh chè đặc sản. Sự đan xen hài hòa giữa các đề án khuyến công quốc gia (như tại HTX Beli Pà Thẻn – Beli Tân Lập Xanh) và khuyến công địa phương (như hộ kinh doanh Lý Chàn Tòng) đã tiếp sức cho nhiều đơn vị chuẩn hóa quy trình, đáp ứng các quy định an toàn thực phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Bước chuyển về hạ tầng kỹ thuật đã tạo tiền đề quan trọng làm thay đổi diện mạo ngành chè địa phương. Thiết bị phân loại quang học và hệ thống sao sấy có kiểm soát giúp loại bỏ hiệu quả cẫng, bụi vụn, tạp chất cơ học, nâng cao độ đồng đều của các lô hàng. Điều này giúp các đơn vị sản xuất như Chè Hùng An hay Chè Mỹ Lâm duy trì các chứng nhận quản lý chất lượng như Rainforest Alliance, tiêu chuẩn FDA của Hoa Kỳ và chứng nhận Halal, hạn chế nguy cơ bị đối tác từ chối đơn hàng do không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật.
Về mặt thương mại, công nghệ mới hỗ trợ các cơ sở phân loại nguyên liệu hợp lý hơn. Búp chè chất lượng cao được đưa vào chế biến chè đặc sản đóng hộp, trong khi phần chè mảnh vụn đạt độ sạch sau tách màu được sử dụng làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất trà túi lọc xuất khẩu. Mặt hàng chè của tỉnh cũng mở rộng diện tiếp cận tại thị trường Đài Loan, các nước ASEAN và từng bước tham gia chuỗi cung ứng tại Nhật Bản, Hàn Quốc và EU.
Đổi mới công nghệ từ nguồn vốn khuyến công quốc gia đã tạo nên bước chuyển căn bản cho chuỗi giá trị chè xứ Tuyên, giúp chuyển từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, từ sản xuất phân tán sang chuỗi liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp. Hiệu quả từ những đồng vốn mồi chính là minh chứng rõ nét cho vai trò đồng hành của ngành Công Thương, đưa nông sản địa phương từng bước thâm nhập sâu rộng và bền bỉ vào các thị trường tiêu chuẩn cao trên thế giới.
Bảo Kiên