Kết quả này phản ánh sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và đặc biệt là sự hưởng ứng tích cực của nông dân trong vùng.
Toàn bộ 354.839 ha tham gia Đề án đều áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa. Việc sử dụng giống lúa chất lượng cao được áp dụng trên 100% diện tích. Lượng giống gieo sạ được giảm từ 30–50%, lượng phân đạm giảm khoảng 30% và số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm từ 2–3 lần so với phương thức canh tác truyền thống. Lượng nước tưới cũng giảm khoảng 20%.
Ngoài ra, toàn bộ diện tích tham gia Đề án đều áp dụng ít nhất một tiêu chí trong quy trình canh tác bền vững như thực hành "1 phải – 5 giảm" hoặc rút nước ruộng ít nhất một lần trong vụ sản xuất.
Song song với đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn cũng được mở rộng. Đến nay, 7.493 ha đã được chứng nhận VietGAP, 246 ha đạt chứng nhận hữu cơ và 5.659 ha đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm.
Những thay đổi này không chỉ góp phần giảm chi phí sản xuất mà còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Theo số liệu từ các mô hình năm 2024, thu nhập của người trồng lúa trong mô hình tăng trung bình 13,4% trở lên so với canh tác truyền thống.
Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời Huỳnh Văn Thòn khẳng định: Thành công lớn nhất của Đề án này là đem lại lợi ích to lớn cho nông dân thông qua các giải pháp về chuyển giao khoa học kỹ thuật như giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, qua đó giảm chi phí đầu vào trong sản xuất lúa, tăng hiệu quả, tăng cạnh tranh, tăng lợi nhuận và hiệu quả đầu ra cho nông dân. Đồng thời kiểm soát dịch hại, nâng cao chất lượng hạt gạo để đưa vào thị trường khó tính, thị trường cao cấp. Bên cạnh đó, hướng tới canh tác giảm phát thải, tăng trưởng xanh theo xu hướng thế giới, dễ tiêu thụ tại các nước đòi hỏi gạo cao cấp.
Giám đốc HTX Nông nghiệp Gò Gon (tỉnh Tây Ninh) Trương Hữu Trí phấn khởi cho biết: Kết quả thực tế cho thấy thực hiện mô hình 1 triệu ha của HTX Gò Gon đạt hiệu quả vượt trội so với phương thức canh tác truyền thống. Chi phí giống giảm hơn 1,16 triệu đồng/ha; chi phí phân bón và thuốc giảm gần 3 triệu đồng/ha; tổng chi phí đầu tư giảm khoảng 4,62 triệu đồng/ha.
Năng suất ước đạt 8,5 tấn/ha, cao hơn khoảng 1 tấn/ha so với ruộng đối chứng. Lợi nhuận ước tính đạt khoảng 32,77 triệu đồng/ha, tăng hơn 10,5 triệu đồng/ha so với phương thức canh tác truyền thống.
Làm rõ thêm vấn đề này, ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp & Môi trường An Giang cho biết, nông dân trong tỉnh tham gia đề án thời gian qua cho thấy đã giảm chi phí đầu vào 4,1 triệu đồng/ha, tăng lợi nhuận hơn 9,3 triệu đồng/ha so với canh tác truyền thống.
Năm 2026, tỉnh An Giang đặt mục tiêu mở rộng diện tích thực hiện Đề án lên 183 nghìn ha, tăng 33 nghìn ha so với năm 2025. Tính đến nay, tỉnh tiếp tục triển khai 31 mô hình thí điểm, với diện tích trên 1.600 ha; diện tích tham gia đề án toàn tỉnh trong vụ lúa Đông Xuân này đạt 159.677 ha, đạt 87% kế hoạch 2026.
Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị
Một điểm nổi bật khác của Đề án là thúc đẩy tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị lúa gạo.
Sau hai năm triển khai, đã có 1.129 hợp tác xã và tổ hợp tác tham gia Đề án, cùng với hơn 210 doanh nghiệp và tổ chức liên quan, trong đó có 102 doanh nghiệp tham gia liên kết tiêu thụ nông sản. Khoảng 600 hợp tác xã và tổ hợp tác đã ký kết liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo với doanh nghiệp, đảm nhiệm sản xuất trên 60–70% diện tích tham gia Đề án.
Đáng chú ý, 100% nông dân tham gia Đề án đều thông qua hợp tác xã hoặc tổ hợp tác. Điều này tạo nền tảng quan trọng cho việc tổ chức sản xuất quy mô lớn, minh bạch và thuận lợi trong liên kết với doanh nghiệp.
Song song với việc tổ chức lại sản xuất, mức độ cơ giới hóa trong sản xuất lúa cũng được nâng cao đáng kể. Trong các mô hình thí điểm, 100% diện tích làm đất và thu hoạch được cơ giới hóa, toàn bộ diện tích gieo sạ được thực hiện bằng máy như sạ hàng, máy cấy, drone hoặc sạ cụm. Việc bơm tưới chủ động đạt 100%, hơn 40% diện tích bón phân bằng máy và 90% diện tích phun thuốc bằng máy hoặc thiết bị bay không người lái.
Nhờ đó, chi phí lao động được giảm đáng kể, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý sản xuất.
Đề án không chỉ hướng đến nâng cao năng suất và thu nhập cho nông dân mà còn đặt mục tiêu xây dựng thương hiệu gạo xanh của Việt Nam.
Trong vụ Đông Xuân, khoảng 70% lượng rơm sau thu hoạch đã được thu gom khỏi ruộng và tái sử dụng cho các mục đích như trồng nấm rơm, làm phân bón hoặc bán cho thương lái, góp phần giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp.
Cùng với đó, Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam đã bước đầu xây dựng nhãn hiệu "Gạo Việt xanh phát thải thấp". Đến nay, diện tích lúa được cấp nhãn hiệu đạt 18.086,39 ha với sản lượng gạo tương ứng khoảng 75.060 tấn. Trong số này, 500 tấn gạo đã được xuất khẩu sang Nhật Bản – một trong những thị trường có yêu cầu khắt khe nhất về chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm.
Những kết quả bước đầu này cho thấy tiềm năng phát triển của gạo phát thải thấp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Tập trung nguồn lực cho giai đoạn tiếp theo
Để triển khai hiệu quả Đề án, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tích cực huy động nhiều nguồn lực trong và ngoài nước.
Trong đó, đáng chú ý là đề xuất dự án "Hỗ trợ hạ tầng và kỹ thuật cho lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long" vay vốn Ngân hàng Thế giới với tổng trị giá 405 triệu USD, gồm 315 triệu USD vốn vay và 90 triệu USD vốn đối ứng.
Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới đã cam kết huy động 50 triệu USD vốn viện trợ không hoàn lại, bao gồm 40 triệu USD từ Quỹ chuyển đổi tài sản carbon (TCAF) và 10 triệu USD từ Hệ thống Lương thực 2030 để hỗ trợ triển khai Đề án.
Về tín dụng, các ngân hàng thương mại cũng tích cực tham gia chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp. Tổng nhu cầu vay vốn của 12 tỉnh, thành phố tham gia Đề án được xác định khoảng 82.989 tỷ đồng. Đến cuối năm 2025, doanh số giải ngân lũy kế đạt khoảng 3.100 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức thông thường.
Trong giai đoạn tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và địa phương hoàn thiện hạ tầng vùng sản xuất, thúc đẩy chương trình tín dụng liên kết chuỗi, đồng thời nghiên cứu cơ chế chi trả tín chỉ carbon cho sản xuất lúa giảm phát thải.
Sau hai năm triển khai, Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã tạo ra những chuyển biến rõ nét trong tổ chức sản xuất và tư duy canh tác tại ĐBSCL. Không chỉ nâng cao giá trị ngành hàng lúa gạo, chương trình còn góp phần cải thiện sinh kế cho nông dân, bảo vệ môi trường và nâng cao vị thế gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Những kết quả bước đầu này được kỳ vọng sẽ trở thành nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục mở rộng mô hình sản xuất lúa gạo xanh, bền vững trong những năm tới.
Nguồn:Chinhphu.vn