Thứ Sáu, 04/09/2026 16:03:56 GMT+7
Lượt xem: 102

Tin đăng lúc 04-09-2026

Chuyển đổi xanh: Giải pháp tiêu thụ và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nông thôn

Chiều 3/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) đã tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi xanh: Chìa khóa kết nối tiêu thụ và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nông thôn”. Sự kiện diễn ra trong khuôn khổ chuỗi hoạt động Kết nối chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế 2026 (Viet Nam International Sourcing 2026), thu hút sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý, chuyên gia kinh tế và đại diện doanh nghiệp.
Chuyển đổi xanh: Giải pháp tiêu thụ và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nông thôn
Bà Đỗ Thị Minh Trâm – Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công Bộ Công Thương phát biểu tại Diễn đàn

Phát biểu khai mạc, bà Đỗ Thị Minh Trâm, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công nhận định, các sản phẩm công nghiệp nông thôn của Việt Nam hiện có nhiều lợi thế từ nguồn nguyên liệu sẵn có, lực lượng lao động địa phương và các giá trị văn hóa bản địa. Dù vậy, thị trường trong nước và quốc tế đang có những chuyển biến nhanh chóng khi người tiêu dùng cùng các hệ thống phân phối ngày càng chú trọng đến nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn môi trường, tính bền vững và khả năng truy xuất của hàng hóa. Theo bà Trâm, đối với các cơ sở công nghiệp nông thôn, chuyển đổi xanh không đơn thuần là yêu cầu về mặt môi trường mà đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ.

 

Phân tích về thực trạng sản xuất, PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho biết các sản phẩm công nghiệp nông thôn hiện chủ yếu tham gia vào chuỗi giá trị ở mức độ thấp dưới dạng xuất khẩu thô hoặc gia công. Ông nêu ví dụ thực tế: một chiếc giỏ mây tre đan có giá bán lẻ tại châu Âu từ 25 đến 40 euro, nhưng cơ sở sản xuất tại làng nghề Việt Nam chỉ thu về khoảng 3 đến 5 USD, tương đương khoảng 10–15% giá trị thành phẩm. Nguyên nhân xuất phát từ việc phần lớn cơ sở có quy mô nhỏ lẻ, thiết bị công nghệ còn hạn chế, lực lượng lao động có xu hướng già hóa và gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng xanh.

 

PGS.TS Bùi Quang Tuấn lưu ý thêm, trong giai đoạn 2025–2027, các thị trường nhập khẩu lớn, đặc biệt là Liên minh châu Âu (EU), bắt đầu áp dụng hàng loạt quy định bắt buộc liên quan đến môi trường và truy xuất nguồn gốc như EUDR, CBAM hay ESPR. Để thích ứng, mục tiêu của hoạt động xuất khẩu cần chuyển đổi từ việc gia tăng sản lượng sang việc gia tăng phần giá trị mà doanh nghiệp và người dân địa phương giữ lại được trong chuỗi cung ứng. Ông đề xuất cần áp dụng giải pháp "Hộ chiếu số" nhằm cung cấp dữ liệu minh bạch về vùng nguyên liệu, đồng thời chuyển phương thức hỗ trợ từ từng cơ sở riêng lẻ sang hỗ trợ toàn diện chuỗi giá trị và hệ sinh thái ngành hàng.

 

Ở góc độ thị trường nội địa, PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (Đại học Quốc gia TP.HCM), chỉ ra những khó khăn khi đưa hàng hóa nông thôn vào hệ thống bán lẻ hiện đại. Bên cạnh các tiêu chuẩn kỹ thuật thông thường, nhiều chuỗi siêu thị bắt đầu yêu cầu việc kiểm toán carbon và ứng dụng bao bì thân thiện với môi trường, khiến chi phí đóng gói tăng thêm từ 15% đến 30%. Ngoài ra, các khoản chi phí thương mại gồm chiết khấu, phí mở mã hàng, phí vị trí trưng bày chiếm từ 20% đến 35% giá bán lẻ, cộng với chu kỳ thanh toán kéo dài đã tạo áp lực lớn lên nguồn vốn lưu động của các đơn vị sản xuất nhỏ.

 

Để hỗ trợ doanh nghiệp, ông Quân đề xuất các hệ thống bán lẻ cần xây dựng cơ chế đối tác cung ứng xanh, cân đối lại mức chiết khấu và rút ngắn thời hạn thanh toán công nợ. Về phía nhà sản xuất, cần tập trung vào ba giải pháp trọng tâm: chuẩn hóa kỹ thuật gắn với liên kết cụm sản xuất; đổi mới bao bì sử dụng vật liệu xanh có tích hợp mã QR truy xuất dữ liệu; và tính toán lại cơ cấu giá thành sản xuất để bảo đảm an toàn tài chính. Ông cũng dẫn chứng các mô hình đã ứng dụng thành công kinh tế tuần hoàn và tiêu chuẩn bền vững như Công ty Phúc Sinh phát triển chuỗi giá trị tiêu và cà phê khép kín, Sokfarm đưa mật hoa dừa xuất khẩu sang Úc, hay VN Food chế biến sâu phụ phẩm thủy sản thành nguyên liệu có giá trị cao.

 

Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn từ doanh nghiệp, ông Nguyễn Quang Duy, Chủ tịch Tập đoàn DT Group, cho biết trước đây nguồn tảo biển tại Khánh Hòa thường chỉ được phơi khô và bán thô với giá khoảng 2.600 đồng/kg, sau đó các sản phẩm chế biến từ nguồn nguyên liệu này được nhập khẩu trở lại Việt Nam với mức giá cao gấp nhiều lần. Nhận thấy sự chênh lệch đó, doanh nghiệp đã tập trung đầu tư công nghệ chế biến sâu cho cây rong nho, từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu và đang nghiên cứu mô hình kinh tế biển kết hợp nuôi trồng đa tầng nhằm giảm thiểu tác động môi trường, hướng đến chứng chỉ carbon. Ông Duy nhận định, việc nâng cao giá trị sản phẩm đòi hỏi sự chuẩn hóa quy trình ngay từ ban đầu, kết hợp xây dựng thương hiệu gắn liền với xuất xứ địa phương và nguồn gốc sản phẩm.

 

Theo đại diện Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, các thông tin và đề xuất được ghi nhận tại diễn đàn sẽ là cơ sở thực tiễn để cơ quan quản lý tiếp tục nghiên cứu, tham mưu và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phù hợp hơn cho các cơ sở công nghiệp nông thôn trong thời gian tới.

 

Phạm Trường


| Mã Khác

Ý kiến bạn đọc :

<>

Quảng cáo

Về đầu trang