"Chuyển đổi xanh" – Kim chỉ nam cho sản xuất bền vững
Nội dung bản Dự thảo Thông tư mới đánh dấu bước ngoặt đột phá trong tư duy quản lý, khi đặt yếu tố môi trường và tính bền vững lên vị trí trung tâm. Cụ thể, ngay tại quy định về nguyên tắc lập đề án và kế hoạch khuyến công quốc gia, văn bản yêu cầu toàn bộ các hoạt động phải hoàn toàn phù hợp với định hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Sự thay đổi này đồng nghĩa với việc dòng vốn khuyến công quốc gia sẽ dịch chuyển từ phương thức hỗ trợ đại trà sang cơ chế chọn lọc kỹ lưỡng, ưu tiên trợ lực cho những mô hình tạo ra giá trị xanh cho hệ sinh thái.
Sự chuyển dịch chiến lược được cụ thể hóa thông qua các quy định chi tiết về việc xây dựng mô hình áp dụng sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững dành cho các cơ sở sản xuất công nghiệp được lựa chọn. Theo đó, một đề án khuyến công hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất sạch hơn bắt buộc phải chứng minh được khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu. Song song với đó, mô hình phải hướng tới mục tiêu giảm thiểu phát thải, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, đồng thời bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường và sức khỏe con người. Đối với các mô hình áp dụng sản xuất và tiêu dùng bền vững, các tiêu chuẩn cũng phải đáp ứng chặt chẽ theo các quy định pháp luật hiện hành nhằm tạo ra chuỗi giá trị khép kín, an toàn.
Để đảm bảo tính nghiêm túc và thực chất của yếu tố "xanh", khâu thẩm định các đề án cũng được thiết kế vô cùng nghiêm ngặt. Dự thảo quy định Sở Công Thương có trách nhiệm thành lập Hội đồng đánh giá chuyên sâu gồm ít nhất 05 thành viên. Hội đồng này không chỉ có lãnh đạo Sở mà bắt buộc phải có sự tham gia của các cán bộ chuyên môn cùng các chuyên gia uy tín về lĩnh vực sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững. Việc Hội đồng phải họp, xem xét kết quả và lập biên bản đánh giá minh bạch sẽ giúp loại bỏ những đề án mang tính hình thức, đảm bảo nguồn lực tài chính của quốc gia được trao đúng cho những đơn vị thực sự có khát vọng và năng lực chuyển đổi công nghệ xanh.
Minh bạch hóa dòng vốn khuyến công
Song song với cuộc đua "xanh hóa" dòng sản xuất, một làn gió mới mang tên "số hóa" trong công tác quản lý cũng được thể hiện rõ nét và xuyên suốt bản dự thảo của Bộ Công Thương. Sự xuất hiện của khái niệm Hệ thống thông tin quản lý khuyến công chính là bước ngoặt thay đổi toàn bộ phương thức vận hành, giám sát truyền thống. Đây không chỉ đơn thuần là phần mềm lưu trữ dữ liệu, mà là một hệ thống đồng bộ và số hóa toàn bộ quy trình quản lý các đề án, nhiệm vụ khuyến công quốc gia từ khâu đăng ký, thẩm định, xét chọn, giao kế hoạch cho đến giai đoạn triển khai thực hiện trên thực tế. Hệ thống này còn đảm nhận vai trò tự động tổng hợp dữ liệu, báo cáo thống kê nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước một cách chính xác nhất.
Thông qua hệ thống này, việc cập nhật thông tin và dữ liệu sẽ được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số. Các tổ chức, cá nhân chỉ cần cung cấp tài liệu, báo cáo, đề án đã được số hóa theo đúng các trường thông tin mà hệ thống thiết lập sẵn. Quy định mới yêu cầu các Sở Công Thương, Trung tâm khuyến công và các tổ chức dịch vụ khuyến công khác phải cập nhật hồ sơ điện tử đăng ký kế hoạch trước ngày 15/10 hàng năm qua hệ thống mạng. Sự cải cách này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở CNNT tiếp cận dòng vốn một cách bình đẳng, minh bạch, đồng thời giảm thiểu tối đa các thủ tục hành chính, giấy tờ rườm rà vốn là rào cản lớn đối với các đơn vị ở vùng sâu, vùng xa.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý còn giúp tối ưu hóa tính linh hoạt của chính sách khi có biến động thực tế. Trường hợp cần điều chỉnh, bổ sung hoặc ngừng triển khai đề án, các đơn vị thực hiện chỉ cần cập nhật văn bản đề nghị kèm lý do rõ ràng qua Hệ thống thông tin quản lý khuyến công. Sự liên thông dữ liệu trực tuyến này giúp cơ quan nhà nước có thể theo dõi sát sao, kịp thời đưa ra quyết định phê duyệt thay đổi về địa điểm, đơn vị thụ hưởng hay nội dung hoạt động nhằm đảm bảo tiến độ giải ngân và quyết toán kinh phí chính xác, không bị tắc nghẽn.
Thay đổi tư duy sản xuất từ “ngắn hạn” sang phát triển vững chắc
Đánh giá về những điểm mới của dự thảo, nhiều chuyên gia kinh tế và đại diện doanh nghiệp đồng tình rằng, việc lồng ghép tiêu chí xanh và số vào chính sách khuyến công sẽ tạo ra cú hích mạnh mẽ, làm thay đổi toàn diện hệ tư duy của khối CNNT. Từ trước đến nay, do giới hạn về quy mô, công nghệ và nguồn vốn, nhiều cơ sở sản xuất tại địa phương thường ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn mà bỏ qua các yếu tố về môi trường hay tối ưu hóa quy trình bằng công nghệ. Khi chính sách quốc gia đưa ra phương thức ưu tiên xét chọn các cơ sở áp dụng sản xuất sạch hơn và tiêu dùng bền vững, các đơn vị buộc phải tự nâng cấp tư duy, chủ động cải tiến công nghệ để đáp ứng tiêu chuẩn nhận hỗ trợ.
Thêm vào đó, cơ chế xét chọn đề án trong dự thảo cũng thể hiện tính nhân văn và phát triển bao trùm khi quy định rõ ưu tiên lựa chọn các cơ sở CNNT do phụ nữ làm chủ, các cơ sở sử dụng nhiều lao động nữ, lao động yếu thế hoặc lao động là người dân tộc thiểu số. Sự kết hợp hài hòa giữa tiêu chí kỹ thuật tiên tiến và tiêu chí xã hội bền vững tạo nên một hành lang chính sách toàn vẹn. Việc hỗ trợ không chỉ dừng lại ở khía cạnh tài chính cho máy móc, thiết bị mới chưa qua sử dụng nhằm nâng cao năng suất và giảm ô nhiễm, mà còn hướng tới việc xây dựng các mô hình trình diễn kỹ thuật để phổ biến công nghệ vượt trội trên địa bàn cấp xã, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng.
Có thể nói, Dự thảo Thông tư mới của Bộ Công Thương đã thể hiện tầm nhìn dài hạn và quyết tâm đồng hành cùng sự phát triển bền vững của khu vực CNNT. Bằng việc kiến tạo hành lang pháp lý minh bạch thông qua số hóa quản lý, đồng thời định hướng dòng vốn vào các mô hình sản xuất xanh, sạch và có trách nhiệm với môi trường, chính sách khuyến công quốc gia đang thực sự đổi mới để trở thành điểm tựa vững chắc. Khi các cơ sở CNNT biết tận dụng bệ đỡ này để tự làm mới mình, họ không chỉ nâng cao năng lực nội tại mà còn đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường và xây dựng một nền kinh tế tuần hoàn, thịnh vượng cho đất nước.
Hoa Nguyễn