Thứ Hai, 06/07/2026 20:00:49 GMT+7
Lượt xem: 189

Tin đăng lúc 06-07-2026

Vai trò không thể thay thế của Trung tâm Khuyến công và thách thức tự chủ tài chính

Nhiều năm qua, các đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ khuyến công thuộc Sở Công Thương (gọi chung là Trung tâm Khuyến công) đã triển khai các hoạt động khuyến công đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, đóng góp quan trọng vào thành tích chung của ngành Công Thương. Đội ngũ viên chức khuyến công là lực lượng nòng cốt trong quá trình đồng hành, hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) vượt qua khó khăn để mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, góp phần tích cực vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Vai trò không thể thay thế của Trung tâm Khuyến công và thách thức tự chủ tài chính
Một trong những hoạt động trọng tâm của các Trung tâm Khuyến công là triển khai hỗ trợ các cơ sở CNNT ứng dụng máy móc, công nghệ tiên tiến vào sản xuất

 

Tuy nhiên, yêu cầu bắt buộc các đơn vị này phải tự bảo đảm chi thường xuyên theo Nghị quyết số 105/NQ-CP đang đặt hệ thống khuyến công trước nguy cơ bị tê liệt hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai chính sách phát triển CNNT, cũng như phát triển kinh tế tư nhân đã được Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo.

 

Vai trò kiến tạo, hỗ trợ mang tính đặc thù

 

Theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định khung danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách Nhà nước, khuyến công được xếp vào danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước, thuộc loại hình hoạt động kinh tế công thương cơ bản và thiết yếu. Hoạt động khuyến công (bao gồm đào tạo, tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất, phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu...) bản chất là nhiệm vụ chính trị, là công cụ hỗ trợ thiết thực của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp vừa vừa nhỏ, các cơ sở sản xuất khu vực nông thôn chứ không phải là hoạt động kinh doanh dịch vụ thương mại, không có khả năng tạo nguồn thu để tự trang trải chi phí bộ máy.

 

Trong những năm qua, đối với khu vực nông thôn, hoạt động khuyến công đóng vai trò như một lực đẩy tăng tốc, giúp các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ thay đổi cả về chất và lượng, trong đó, Trung tâm Khuyến công có vai trò là "cơ quan thực thi", đưa các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đến với các cơ sở CNNT.

 

Cụ thể, giai đoạn 2021 - 2025 là một quãng thời gian đặc biệt khó khăn đối với khu vực sản xuất CNNT: Đại dịch Covid-19 kéo dài, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào leo thang, biến động địa chính trị toàn cầu… Những yếu tố này đã đặt các cơ sở sản xuất nhỏ và siêu nhỏ ở khu vực nông thôn trước sức ép sinh tồn khốc liệt. Trong bối cảnh đó, chương trình khuyến công đã góp sức hỗ trợ, giúp nhiều cơ sở trụ vững và từng bước phục hồi.

 

Một trong những hiệu quả lớn nhất của hoạt động khuyến công đó là đóng vai trò “vốn mồi”, khuyến khích các doanh nghiệp, cơ sở CNNT mạnh dạn bỏ vốn đối ứng để đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

 

Trong giai đoạn 2021-2025, tổng kinh phí khuyến công cả nước được phê duyệt đạt 1.436 tỷ đồng, trong đó kinh phí khuyến công quốc gia chiếm 36,6%, còn lại là nguồn lực từ các địa phương. Điều đáng chú ý là tổng vốn đối ứng của doanh nghiệp và cơ sở CNNT lên tới gần 1.525 tỷ đồng, cho thấy sức lan tỏa và khả năng “kéo vốn xã hội” của chương trình. Bình quân, 01 đồng ngân sách nhà nước đã thu hút được khoảng 1,06 đồng vốn đầu tư của cơ sở CNNT.

 

 

 

Đẩy mạnh hỗ trợ các cơ sở tham gia giới thiệu, quảng bá sản phẩm CNNT tại các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước

 

Hiệu quả ấy thể hiện rõ nhất ở nội dung trọng tâm - hỗ trợ đổi mới công nghệ và thiết bị. Điển hình có thể kế đến như tỉnh Ninh Bình, giai đoạn 2021 - 2025, tổng kinh phí thực hiện hoạt động khuyến công của tỉnh này đạt hơn 104 tỷ đồng, trong đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp hơn 29 tỷ đồng, còn các cơ sở CNNT đối ứng hơn 75 tỷ đồng, chiếm trên 72% tổng nguồn vốn. Từ nguồn vốn này, đã triển khai 73 đề án xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ 81 cơ sở CNNT với tổng kinh phí hơn 20,1 tỷ đồng. Hỗ trợ 06 đề án ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến với kinh phí 5,9 tỷ đồng; 02 đề án xây dựng mô hình thí điểm áp dụng sản xuất sạch hơn và 04 đề án tư vấn, đánh giá các giải pháp sản xuất sạch trong công nghiệp. Thông qua các chương trình này, nhiều cơ sở sản xuất đã đầu tư dây chuyền hiện đại, từng bước hình thành quy trình sản xuất khép kín, tiết kiệm nguyên liệu, giảm phát sinh chất thải và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây cũng là nền tảng để các doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao.

 

Tại tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn này cũng đã triển khai thực hiện được 142 đề án khuyến công với tổng kinh phí thực hiện trên 104,8 tỷ đồng; tổ chức 5 kỳ bình chọn sản phẩm CNNT tiêu biểu (RISEP) cấp tỉnh, 4 kỳ bình chọn cấp khu vực và 6 kỳ bình chọn cấp quốc gia với tổng 110 sản phẩm, bộ sản phẩm được công nhận cấp tỉnh, 35 sản phẩm, bộ sản phẩm được công nhận cấp khu vực và 14 sản phẩm, bộ sản phẩm được công nhận cấp quốc gia; hỗ trợ đổi mới, ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, khuyến khích cơ giới hóa, tự động hóa trong sản xuất, chế biến, đóng gói nông sản, sản xuất gia công...

 

Đánh giá về hiệu quả của chương trình khuyến công đem lại, nhiều doanh nghiệp, cơ sở CNNT cho biết, mặc dù mức hỗ trợ từ nguồn kinh phí khuyến công không cao nhưng đã tạo động lực để các cơ sở CNNT mạnh dạn bỏ vốn để đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đem lại hiệu quả thiết thực cho đơn vị thụ hưởng. Đặc biệt, với sự đồng hành của Trung tâm Khuyến công trong việc cung cấp thông tin, tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn các cơ sở từ lập đề án, triển khai đề án, cho đến nghiệm thu đề án… đã giúp đơn vị tự tin hơn khi đăng ký thực hiện đề án.

 

Hệ lụy khi áp đặt cơ chế tự chủ tài chính chi thường xuyên

 

Có thể thấy rằng, để có được những kết quả ấn tượng của chương trình khuyến công thời gian qua, không thể thiếu sự đóng góp quan trọng của Trung tâm Khuyến công tại các địa phương. Các Trung tâm này có vai trò như là "cầu nối" đưa các chủ trương, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đến với khu vực nông thôn, biến nó thành hiệu quả kinh tế thực tế tại các xưởng sản xuất, nhà máy, làng nghề. Sự tăng trưởng, bứt phá doanh thu của các hộ kinh doanh, hợp tác xã ở vùng nông thôn, hay việc ngày càng nhiều sản phẩm CNNT, sản phẩm RISEP định vị được thương hiệu trên thị trường… chính là câu trả lời rõ ràng nhất cho hiệu quả của dòng vốn ngân sách thông qua công cụ khuyến công.

 

Nếu áp đặt cơ chế tự chủ chi thường xuyên sẽ khiến các Trung tâm này có thể phải dừng hoạt động, hoặc có thể phải chuyển đổi phương thức hoạt động với cơ chế, hình thức khác, như vậy sẽ không thể duy trì hoạt động hỗ trợ, đặc biệt ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đặc khu - nơi có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, các cơ sở sản xuất CNNT sẽ mất đi một “điểm tựa” cực kỳ quan trọng.

 

Chính vì vậy, để đảm bảo tổ chức hệ thống khuyến công tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở CNNT vượt qua kỷ nguyên mới đầy thách thức, việc Nhà nước tạo điều kiện, bảo đảm chi thường xuyên hoặc không bắt buộc phải tự chủ hoàn toàn nếu nhiệm vụ chính là phục vụ quản lý nhà nước, hỗ trợ cộng đồng và duy trì đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ khuyến công thuộc các Sở Công Thương là vô cùng cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, góp phần quan trọng để nền kinh tế tăng tốc, đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới.

 

Minh Vũ


| Mã Khác

Ý kiến bạn đọc :

<>

Quảng cáo

Về đầu trang