Theo dự thảo, việc lập đề án và kế hoạch khuyến công quốc gia phải tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống nguyên tắc cốt lõi nhằm bảo đảm tính đồng bộ. Đầu tiên, các đề án phải hoàn toàn phù hợp với chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của Đảng và Nhà nước, cũng như quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và địa phương. Bên cạnh đó, nội dung hoạt động cũng như danh mục ngành nghề đăng ký phải đúng đối tượng thụ hưởng theo quy định về khuyến công và đảm bảo nguyên tắc sử dụng kinh phí của Bộ Tài chính, phù hợp với Chương trình khuyến công quốc gia trong từng giai đoạn.
Để hiện thực hóa các nguyên tắc này, phương thức xét chọn các đề án khi giao kế hoạch hàng năm cũng được quy định rõ ràng nhằm tối ưu hóa nguồn lực:
Quy trình xây dựng kế hoạch khuyến công quốc gia hàng năm sẽ được thực hiện chặt chẽ từ cấp cơ sở. Các đơn vị thực hiện có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã và cộng tác viên khuyến công để khảo sát thực tế, thu thập nhu cầu hỗ trợ của doanh nghiệp, sau đó lập hồ sơ đề án gửi Sở Công Thương để thẩm định cấp cơ sở.
Điểm đáng chú ý trong công tác tổ chức thẩm định là việc phân cấp và thời hạn rõ ràng. Cụ thể, đối với đề án triển khai trên địa bàn một tỉnh/thành phố: Giám đốc Sở Công Thương thành lập Hội đồng thẩm định cấp cơ sở, tổng hợp danh mục gửi về Bộ Công Thương và báo cáo UBND cấp tỉnh. Thời hạn gửi hồ sơ trước ngày 15/10 hằng năm, đồng thời các Sở Công Thương và tổ chức dịch vụ khuyến công phải gửi hồ sơ điện tử qua Hệ thống thông tin quản lý khuyến công và gửi bản cứng Phiếu thẩm định cấp cơ sở về Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công.
Hội đồng thẩm định cấp Bộ sẽ tiến hành rà soát dựa trên tính phù hợp, sự cần thiết, hiệu quả của đề án; năng lực của đơn vị thực hiện và khả năng lồng ghép nguồn lực.
Dự thảo cũng quy định chi tiết về nguyên tắc tài chính đối với các hợp đồng khuyến công ký kết giữa các đơn vị thực hiện và Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công. Phương thức quản lý nguồn vốn được thiết kế đảm bảo tiến độ triển khai của doanh nghiệp nhưng vẫn kiểm soát chặt chẽ rủi ro.
Cụ thể, cơ chế tạm ứng và thanh toán được đề xuất như sau: Đối với đề án thực hiện trong 1 năm, sau khi hợp đồng được ký kết, đơn vị thực hiện sẽ được tạm ứng trước 50% kinh phí hỗ trợ. Số kinh phí còn lại (50%) sẽ được thanh toán sau khi đề án hoàn thành toàn bộ và có biên bản nghiệm thu cơ sở xác nhận khối lượng công việc thực tế. Đối với đề án nhiều năm và đề án điểm, kinh phí sẽ được phân bổ và giao theo từng năm. Việc tạm ứng lần 1 và thanh toán phần còn lại của mỗi năm cũng áp dụng tương tự quy trình trên.
Sau khi kết thúc hợp đồng, các đơn vị thực hiện có trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán. Cơ quan quản lý sẽ tiến hành quyết toán và thanh lý hợp đồng với đơn vị, thời hạn yêu cầu là không chậm quá ngày 31/3 năm sau. Đối với các trường hợp bất khả kháng không thể hoàn thành mục tiêu, cơ quan quản lý sẽ xem xét quyết toán dựa trên khối lượng công việc thực tế đã triển khai và chứng từ hợp lệ.
Dự thảo Thông tư này dự kiến sẽ có hiệu lực thi hành trong năm 2026, thay thế cho các quy định cũ nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch cho hoạt động khuyến công trên cả nước.
Trường Phạm